Quan niệm tôn giáo của con người trung bình thời hiện đại - Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy
Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy

Quan niệm tôn giáo của con người trung bình thời hiện đại

20:24:04 08-01-2018

(Caphethubay.net) - Tôi lấy nhan đề như ở trên là có dụng ý sau: con người trung bình thời hiện đại là một khái niệm khá mơ hồ, người đọc có thể tùy tiện thấy mình có phần nào trong đó hoặc không có chút nào hết; như thế tôi sẽ không gây tổn thương cho ai cả.

Con người trung bình được đề cập ở đây có rất nhiều thứ là trải nghiệm đã qua của chính tôi. Đây chính là đối tượng mà tôi muốn phê phán. Những kiến giải ở đây dựa vào các tác phẩm A Guide for the Perplexed của E.F. Schumacher và Ánh sáng trong bóng tối (Свет во тьме) của S.L. Frank, có tham khảo một số tác giả khác như Hamvas Béla, N. Berdyaev, A. Herzen, và J.S. Mill.

Tôi sẽ tập trung bàn luận định kiến thường gặp ở con người thời hiện đại về niềm tin tôn giáo. Hamvas Béla đã viết về định kiến tôn giáo như sau:"Các cuộc tấn công [thời kỳ Ánh Sáng] đều nhằm vào tôn giáo, cho dù mục tiêu không phải là tôn giáo mà nhằm vào sự lạm dụng quyền lực của giới giáo sĩ, sự hạn chế và các tham vọng thế lực của giới này.

Nhưng cho đến tận thời gian gần đây nhất, cả những kẻ tấn công và những kẻ bảo vệ đều ở trong một niềm tin: nói đến Kitô giáo là cần phải nói đến những giáo điều, các huyền thoại, các tổ chức giáo sĩ và đạo đức của nỗi sợ hãi mê tín." ( Hamvas Béla, Minh triết và thiêng liêng, tập III, Nguyễn Hồng Nhung dịch, NXB Tri thức, 2016, tr.45-46). Hamvas Béla hiểu Kitô giáo trong ý nghĩa định hướng tinh thần của Phúc Âm. Cách hiểu này tương đồng với nhiều triết gia (như N. Berdyaev, S. Frank. E. Fromm, E. Schumacher...) và khác biệt với cách hiểu của đám đông trong xã hội mà Hamvas Béla phê phán như trong trích đoạn trên. Khi đề cập đến tôn giáo truyền thống của loài người tôi sẽ hàm ý định hướng tinh thần của các tôn giáo đối với con người, chứ không nói nhiều về các giáo sĩ và các giáo hội trong lịch sử.

Niềm tin tôn giáo là một điều rất riêng tư

Theo Schumacher thì việc đoạn tuyệt với Kitô giáo xảy ra ở xã hội phương Tây vào thời kì Khai sáng, do ảnh hưởng sâu sắc của triết gia Descartes (1596-1650). Descartes cho rằng "Người nào tìm kiếm con đường trực tiếp đi đến sự thật, thì phải không bận tâm với bất cứ đối tượng nào mà người đó không có được một tính chắc chắn ngang bằng với những chứng minh của số học và hình học" Chỉ những đối tượng như vậy mới phải thu hút sự chú ý của chúng ta "đến với tri thức chắc chắn và không chút nghi ngờ mà các sức mạnh trí tuệ của chúng ta hình như thích đáng tương xứng". Ông viện cớ rằng triết học "đã được trau dồi trong nhiều thế kỉ bởi những trí tuệ tốt đẹp nhất đã từng sống, mặc dù vậy vẫn chẳng có một sự vật nào được tìm thấy mà lại không là đề tài tranh cãi và hệ lụy là không còn bị nghi ngờ nữa", sự kiện ấy đã dẫn Descartes đến với điều chẳng khác gì là "cuộc thối lui khỏi minh triết" và hoàn toàn tập trung vào tri thức thật vững chắc và nằm ngoài mọi nghi ngờ giống như toán học và hình học.

Schumacher nhận xét như sau: chấp nhận một thứ gì là chân lí, hàm nghĩa chịu nguy cơ lầm lẫn. Nếu tôi tự giới hạn mình ở những tri thức mà tôi xem là chân lí vượt ra ngoài mọi nghi hoặc, thì tôi giảm được nguy cơ lầm lẫn xuống mức tối thiểu, nhưng đồng thời tôi lại có nguy cơ ở mức tối đa bỏ qua những gì là huyền ảo nhất, quan trọng nhất và đáng giá nhất trong cuộc đời. St. Thomas Aquinas, đi theo Aristotle, đã dạy bảo rằng "một tri thức mảnh mai nhất khả dĩ nhận được ở những thứ cao cả nhất, thì đáng mong ước nhiều hơn là tri thức chắc chắn nhất, thu được từ những thứ kém cỏi hơn". Tri thức "mảnh mai" ở đây được đặt đối lập với tri thức "chắc chắn", và chỉ ra tính bất xác định. Rất có thể nhất thiết là những thứ cao cả hơn không thể được tri giác với độ chắc chắn ngang bằng với độ chắc chắn mà các thứ kém cỏi hơn có thể được tri giác, trong trường hợp như vậy thì quả thực hẳn sẽ là mất mát rất lớn, nếu tri thức bị giới hạn ở những thứ nằm ngoài khả năng nghi hoặc.

Thế nhưng khái niệm "cao cả hơn" và "thấp kém hơn" hàm nghĩa gì? Theo Schumacher, tổ tiên chúng ta nhìn thấy thế giới hiện hữu như một "Chuỗi của Hiện hữu", có vẻ như phân chia một cách tự nhiên thành bốn khu vực: khoáng chất, cây cối, động vật và con người. Hiện hữu của cây cối cao hơn hiện hữu của khoáng chất, có một bước nhảy bản thể luận, có thể dùng từ ngữ "sự sống" để biểu tượng cho bước nhảy đó. Những động vật tiêu biểu như chó, mèo có hiện hữu cao hơn cây cối. Bước nhảy bản thể luận này có thể biểu tượng bằng từ ngữ "ý thức". Con người có hiện hữu cao hơn động vật, mặc dù nhiều người thời hiện đại không thừa nhận điều này. Schumacher dùng biểu tượng "tự-ý-thức" để chỉ bước nhảy bản thể luận ấy. Trình độ hiện hữu cao hơn bao gồm tất cả những thành tố hiện hữu ở trình độ thấp hơn: con người bao gồm cả khoáng chất, sự sống và ý thức vốn có ở các trình độ thấp hơn. Tổ tiên chúng ta nhìn theo sơ đồ chuỗi trình độ hiện hữu như đánh giá theo chiều thẳng đứng: con người ở vị trí cao nhất trong bốn trình độ hiện hữu nên phải thể hiện thái độ có trách nhiệm với cả thế giới. Những bước nhảy bản thể luận của các trình độ hiện hữu là những bí ẩn của thế giới: con người có thể hủy hoại sự sống của cây cối, biến nó thành khoáng chất; thế nhưng con người không thể tạo ra sự sống từ khoáng chất. Các hữu thể ở trình độ cao hơn khoáng chất, thể hiện mình như các hữu thể có một "đời sống bên trong", vô hình đối với các giác quan của con người. Khi ý thức được những bất toàn của mình, con người thời xưa tự hỏi: liệu có chăng những Trình độ Hiện hữu ở trên con người? Schumacher nhận xét:" ... đại đa số loài người, trong suốt lịch sử đã được biết cho đến tận thời gian mới đây, người ta đã tin thật vững chắc rằng Chuỗi của Hiện hữu mở rộng lên trên vượt quá con người. Tín niệm phổ quát ấy gây ấn tượng mạnh cả về độ dài thời gian và cả về cường độ của nó. Những nhân vật của thời xưa, mà chúng ta vẫn còn xem như minh triết nhất và vĩ đại nhất, không những chia sẻ niềm tin ấy, nhưng còn xem nó là quan trọng nhất và sâu sắc nhất trong tất cả các sự thật." Chúng ta sẽ xem xét trường hợp cụ thể của Kitô giáo.

Biếm hoạ về sự báng bổ tôn giáo

Như mọi người đều biết Kitô giáo được xem như khởi đầu với Đức Kitô Jesus, một nhân vật lịch sử có thực xét từ góc độ của các sử gia, nhưng được các Kitô hữu tin là người con trai của Thượng đế đi xuống trần gian để cứu độ cho con người. Kitô giáo cũng được xem như có gốc gác từ Do Thái giáo và Kitô giáo cũng hình thành từ cộng đồng Do Thái với Kinh Cựu Ước của Do Thái giáo. Đức Jesus có 12 vị tông đồ, là những người được Đức Jesus truyền giảng trực tiếp. Những vị tông đồ này đã ghi chép lại các sự kiện huyền bí cũng như truyền đạt lại những lời dạy bảo của Đức Jesus trong Kinh Phúc Âm, cũng được gọi là Tân Ước, được xem là kinh văn mà tất cả các Kitô hữu, dù sau này chia thành các giáo phái khác nhau, đều nhận là căn cứ cho tín niệm của mình.

Kitô giáo xuất hiện ở châu Âu vào thời kì đế chế La Mã, một nền văn minh cổ đại rất rực rỡ, để lại những dấu tích kì quan ở khắp châu Âu ngày nay mà khoa học hiện đại còn chưa giải mã được hết. Từ một cộng đồng tôn giáo nhỏ bé, bị truy đuổi tàn nhẫn, Kitô giáo rốt cuộc đã trở thành một tôn giáo chi phối toàn bộ chính trị và văn hóa châu Âu thời trung đại. Tôi không có được tri thức lịch sử chắc chắn về quá trình này và tôi cũng không định trình bày ý kiến nào về những diễn biến lịch sử ấy. Tôi chỉ giới hạn bàn luận về những biến đổi lớn mà tư tưởng Kitô giáo đã tác động đến định hướng tinh thần của văn minh châu Âu.

Biến đổi từ Kitô giáo thời kì sơ khởi của các vị tông đồ đến Kitô giáo của các giáo hội thời trung đại quả thật là rất lớn. A. Herzen (1812-1870) trong tác phẩm Từ bờ bên kia đã nhận xét:" Trong vòng bốn trăm năm tranh đấu, trong vòng sáu thế kỷ man rợ, và sau những nỗ lực ấy kéo dài cả ngàn năm, thế giới đã được rửa tội đến nỗi chẳng còn lại gì hết từ học thuyết của các vị tông đồ; từ kinh phúc âm giải thoát người ta đã tạo ra thiên chúa giáo đầy gò bó, từ tôn giáo của lòng yêu thương và sự bình đẳng - đã tạo ra giáo hội của máu và chiến tranh. Thế giới cổ đại, cạn kiệt hết sinh lực của mình, đã sụp đổ, Kitô giáo hiện ra vào lúc lâm chung của thế giới cổ đại như một thày thuốc và người an ủi, thế nhưng khi chạm vào người bệnh thì bản thân nó cũng bị lây nhiễm và biến thành kiểu La Mã, kiểu man rợ, hay kiểu gì đó cũng được, nhưng không phải là kiểu kinh phúc âm nữa."

Tinh thần Kinh Phúc Âm là gì? Theo kiến giải của các triết gia tôn giáo (S. Frank. N. Berdyaev) con người đồng thời thuộc về hai thế giới: thế giới tinh thần và thế giới tự nhiên. Kitô giáo dạy người ta hướng vào "bên trong", tức là thế giới tinh thần vô hình, sẽ thấy được Thượng đế ở đó. Theo S. Frank, đây là khác biệt quan trọng của Kitô giáo trong so sánh với kinh Cựu Ước của Do Thái giáo vốn quan niệm về một Thượng đế ngoại tại. Định hướng tinh thần Kitô giáo hướng về Thượng đế cũng tức là hướng về điều thiện và cái cao cả (hoàn hảo như Cha ở trên Trời) và xem thường các cám dỗ vật chất của thế giới trần gian. S. Frank viết: "Lời dạy bảo cơ bản của Thượng đế hiệu triệu chúng ta hoàn thiện không phải những người khác, không phải cõi trần gian, mà là hoàn thiện chính chúng ta; và như chúng ta đã thấy, lời dạy bảo ấy không quy định cho chúng ta những hành động xác định nào đó, mà quy định một trạng thái xác định, chính là trạng thái hoàn hảo tối đa của linh hồn, một kết cấu nào đó của hiện hữu tinh thần nội tâm - trực tiếp đối với mỗi chúng ta chính là kết cấu hiện hữu của riêng mỗi chúng ta. Thế nhưng vì nội dung của tình trạng hoàn hảo nội tâm ấy là tình thương yêu, nên - chúng ta cũng đã thấy rồi - lời dạy bảo hoàn thiện trùng khớp với lời dạy bảo phát triển trong bản thân mình những sức mạnh ân phúc của tình thương yêu. Nhưng sức mạnh của tình thương yêu, theo thực chất chính là tình trạng tỏa sáng nào đó phát ra bên ngoài, thể hiện một cách cụ thể ở trong tính tích cực đạo đức, trong hoạt động tình thương yêu vì lợi ích của người gần, trong việc lan tỏa điều thiện vào cõi trần gian. Tinh tích cực đạo đức ở cõi trần gian, cái mệnh lệnh nhất quyết chung của lời dạy tình yêu, như vậy trùng khớp với nhiệm vụ hoàn thiện cõi trần gian ở trong ý nghĩa bao quát nhất của khái niệm này." (Ánh sáng trong bóng tối).

Kitô giáo tin rằng con người có khả năng làm được điều này vì con người được Thượng đế tạo ra theo hình tượng của Người. Nhưng con người có thân xác mang tính súc vật nên dễ bị các cám dỗ vật chất và rơi vào tình trạng sa đọa. Tình trạng lưỡng phân này của con người cũng được xem như nguyên nhân dẫn đến suy đồi của các giáo hội, vốn cũng chỉ bao gồm những con người trần thế. Nó cũng là nguyên nhân khiến cho các giáo hội tuy cùng dựa vào kinh văn Phúc Âm nhưng lại có những diễn giải khác biệt nhau.

Các giáo hội Kitô giáo trong lịch sử thời Trung đại vẫn nói về tính lưỡng phân của con người, nhưng lại quá nhấn mạnh vào tính chất tội lỗi của con người. Hoạt động của Giáo hội thời kỳ đó có chiều hướng câu kết với các chính thể quân chủ phong kiến trong việc cai trị dân chúng. Những lời răn dạy thường là những lời biện hộ cho mọi quyền uy hiện hữu. J.S. Mill đã nhận xét:" Tất cả điều thiện mà con người có khả năng làm chỉ là sự tuân phục..., những gì không phải là nghĩa vụ đều là tội lỗi. Bản tính con người căn bản là đồi bại, không thể cứu chuộc được cho một ai chừng nào bản tính con người chưa bị giết chết đi trong bản thân người đó...Đó là lý thuyết của chủ nghĩa Calvin." Kitô giáo của giáo hội vào giai đoạn cuối của thời Trung đại đã khác đi rất nhiều so với những gì mà các vị tông đồ đã rao giảng vào thời kỳ sơ khởi của Kitô giáo. Thời kỳ Phục Hưng và thời kỳ Khai minh tiếp theo sau đó thể hiện phản ứng nổi loạn chống lại khuynh hướng hạ nhục con người như thế. J.S. Mill đã viết:" Thế nhưng, nếu là một bộ phận của tôn giáo tin rằng con người được tạo nên bởi một Thượng đế lòng lành, thì thuận theo lẽ ấy hơn sẽ phải tin tưởng rằng, Thượng đế ấy đã ban cho con người mọi năng khiếu nhân bản để họ vun trồng và bộc lộ chúng ra, chứ không phải để họ nhổ bứt chúng khỏi rễ và hủy hoại chúng đi; rằng ngài vui mừng với mỗi bước của chúng sinh tiến lại gần hơn với quan niệm lý tưởng được đặt vào trong họ, ngài vui mừng với mỗi sự gia tăng trong khả năng thấu hiểu, hành động hay vui sướng của họ."

Bức tranh nổi tiếng Bữa tiệc li của Leonard de Vinci có cảm hứng từ tôn giáo

Cần phải lưu ý rằng thời kỳ Trung đại của châu Âu cũng là thời kỳ Kitô giáo truyền cảm hứng đạo đức cho dân chúng và tạo ra sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật lấy cảm hứng từ các chủ đề tôn giáo. Nhiều người thời hiện đại đã không có hiểu biết đúng đắn về thời trung đại, họ đã đồng nhất toàn bộ thời trung đại của châu Âu như một thời kỳ tăm tối "đêm trường trung thế kỷ", trước khi thời kỳ Phục hưng và Khai minh đột nhiên bừng sáng lên.

 Cách mạng Pháp 1789 với khuynh hướng bạo lực quá khích của phái Jacobin nhắm vào giới quý tộc và giới giáo sĩ đã gây lo ngại cho một nhà cách mạng đầy nhiệt huyết là Thomas Paine (1737-1809). Ông tham gia cách mạng ở Hoa Kỳ và năm 1794 đã bày tỏ lập trường của mình về vấn đề tôn giáo trong một bức thư gửi toàn thể công dân Hoa Kỳ. Ông e ngại rằng" trên đống hoang tàn của sự mê tín dị đoan, của những hệ thống chính thể sai trái, và của hệ thần học sai trái, chúng ta cũng mất đi nền đạo đức, tính nhân văn và hệ thần học đúng đắn." Ông khẳng định ông tin vào một Thượng đế và ông hy vọng được hạnh phúc sau cõi đời này; ông tin rằng những nghĩa vụ tôn giáo là bao gồm việc xử sự đúng đắn, yêu quý lòng nhân từ và ráng sức đem lại hạnh phúc cho đồng loại. Nhưng ông không tin vào những tín điều rao giảng bởi bất cứ giáo hội nào mà ông từng biết. Ông khẳng định:" Tâm hồn tôi là giáo hội của chính tôi." Lập trường tôn giáo của Paine có lẽ cũng là lập trường của giới tinh hoa văn hóa phương Tây thời đó và cũng có thể vẫn là như thế cho đến giữa thế kỷ XX.

Nỗi e ngại của Thomas Paine đã trở thành hiện thực và “chủ nghĩa nhân văn” của thời đại mới đã xuất hiện trong đối lập trực tiếp với thế giới quan Kitô giáo. S. Frank đã viết: " ... và chính trong hình thức như thế nó đã xác định đặc tính niềm tin vào con người cho đến thời đại hiện nay (giữa thế kỉ XX. NVT). Cảm giác niềm tin vào chính bản thân mình và sứ mệnh vĩ đại của mình trên trần thế, tràn ngập con người từ khởi đầu thời đại thường vẫn được gọi là “thời đại mới”, được con người cảm nhận như là một ý thức nào đó hoàn toàn mới mẻ, như một cuộc cách mạng tinh thần nào đó chống lại kiểu cách chung của nhân sinh quan thời trung cổ được giáo hội thần thánh hóa. Sự chào đời này của chủ nghĩa nhân văn thời đại mới mang tính chất một cuộc nổi loạn nào đó đầy kiêu hãnh của con người chống lại các lực lượng nô dịch và hạ nhục nó. Một trong những người báo tin sớm nhất và có ảnh hưởng nhiều nhất, Giordano Bruno, định nghĩa nguồn cảm hứng của ý thức tự giác mới mẻ ấy của con người như là “cuộc nổi giận anh hùng” (heroice furore). Thoạt tiên niềm tin đó vào con người, bất chấp tình trạng đối lập gay gắt của nó với thế giới quan Kitô giáo thời trung cổ, vẫn còn bao phủ một bầu không khí tôn giáo chung nào đó... Nhưng nói chung, chính là vào thế kỷ XVIII, vào thời đại Khai minh của Pháp, đã hoàn tất việc đoạn tuyệt giữa hai niềm tin ấy: niềm tin vào con người ở thời đại này bước vào tình trạng đối lập đặc trưng của chủ nghĩa nhân văn thời đại mới đối với bất kỳ niềm tin tôn giáo nào nói chung; niềm tin ấy đã kết hợp vô tín ngưỡng tôn giáo với thế giới quan tự nhiên và duy vật. Trong kết hợp ấy bao hàm thực chất quan điểm đã ngự trị trong tư duy con người trong hai thế kỷ mới đây và có thể gọi nó là “chủ nghĩa nhân văn thô thiển”." (Ánh sáng trong bóng tối).

Theo Berdyaev, để xảy ra tình trạng này là tội lỗi mà các giáo hội Kitô giáo trong lịch sử phải gánh chịu vì đã đưa ra vô số các hiển hiện trá ngụy của Thượng đế, khiến cho chủ nghĩa vô thần dễ dàng công kích; tính thanh sạch của khải huyền thường bị xuyên tạc bởi con người trần thế.

Tuy nhiên, chủ nghĩa nhân văn vô tín ngưỡng xuất hiện phần nào còn do ấn tượng mạnh mẽ trước những thành tựu huy hoàng của khoa học tự nhiên mà trước hết là vật lí học với mô hình theo kiểu cơ học Newton dựa trên toán học. Các thành tựu của khoa học vật lí đã dẫn đến những ứng dụng công nghệ, làm biến đổi sâu sắc nền kinh tế phương Tây, tạo ra các tàu to súng lớn phục vụ cho các mưu đồ đế quốc chủ nghĩa. Các nhà khoa học sáng lập ra vật lí học hiện đại, như Newton, Einstein, Max Plank... không liên quan gì đến các ứng dụng công nghệ này. Thiên tài của họ nhằm vào việc nhận thức thế giới, mà đối tượng nghiên cứu của vật lí là khoáng chất không chứa đựng các sức mạnh sự sống, ý thức và tự-ý-thức. Cho đến nay khoa học không có bằng chứng nào về "thế giới bên trong" của các vật thể khoáng chất bất động, và nghiên cứu vật lí học dựa trên các biểu hiện bề ngoài của vật thể mà con người có thể quan sát được bằng các giác quan (hay có trợ giúp của các thiết bị tăng cường sức mạnh cho các giác quan). Khoa học vật lí vì vậy có bản chất là khoa học thường nghiệm. Các khái niệm và lí thuyết vật lí được đông đảo các nhà vật lí chấp nhận (còn được gọi là một hệ hình) là vì trong giai đoạn nhất định của quá trình phát triển chúng phù hợp tốt nhất với kết quả thường nghiệm. Trong lịch sử vật lí học các hệ hình đã trải qua các khủng hoảng, cách mạng và biến đổi sâu sắc. Vì vậy, các nhà khoa học biết rõ rằng: các kết quả lí thuyết phù hợp với quan sát thường nghiệm không thể "chứng minh" được chân lí nào, mà chỉ nhất thời củng cố niềm tin vào hiệu quả của hệ hình đang hiện hành. Schumacher nhận xét: "Ở điểm này, những gì chúng ta cần phải thấu hiểu - và viết vào tấm bản đồ tri thức của chúng ta - là điều sau đây: Vì vật lí học và các khoa học chỉ dẫn khác đặt cơ sở cho bản thân mình ở phương diện đã chết của tự nhiên, nên chúng không thể dẫn đến triết học, nếu triết học là đưa ra hướng dẫn về chuyện sống là thế nào. Vật lí học thế kỉ XIX bảo chúng ta rằng, sự sống là một tình cờ vũ trụ không có ý nghĩa hay mục đích. Các nhà vật lí tốt nhất của thế kỉ XX lấy lại những lời nói ấy và bảo chúng ta rằng, họ chỉ xử lí với các hệ thống đặc thù, bị cô lập chặt chẽ, nhằm chứng tỏ các hệ thống ấy vận hành ra sao, hay có thể tạo ra để vận hành thế nào, và rằng không có những kết luận triết học tổng quát nào có khi nào lại có thể được (hay phải được) rút ra từ tri thức ấy."

Thế nhưng con người trung bình thời hiện đại bị lóa mắt trước các thành công trong ứng dụng công nghệ, lại tin tưởng vào sức mạnh toàn năng của khoa học thường nghiệm. Họ cho rằng không có gì huyền bí trong thế giới này, chỉ có những điều chưa được khoa học khám phá, nhưng rồi sẽ được khám phá trong tương lai xa hay gần mà thôi. Schumacher nhận xét rằng họ nhìn vào các thế hệ trước, "ngoại trừ thế hệ mới đây, như là những người ảo tưởng đầy lâm li thống thiết, sống cuộc đời mình dựa trên những niềm tin phi lí tính và các mê tín dị đoan ngu xuẩn. Ngay cả các nhà khoa học lừng danh như Johannes Kepler hay Isaac Newton cũng có biểu hiện tiêu phí thời gian và năng lượng của mình vào những nghiên cứu vô nghĩa về những thứ không hề tồn tại. Trong suốt lịch sử, một lượng lớn sức khỏe khó kiếm được, đã bị tiêu phí vào việc tôn vinh các thượng đế tưởng tượng - không những bởi các bậc tiền bối châu Âu của tôi, mà còn bởi tất cả các dân tộc ở mọi miền trên thế giới vào mọi thời đại. Ở mọi nơi hàng ngàn người có vẻ lành mạnh, đàn ông và đàn bà, tự bắt mình phải chịu những kiềm chế hoàn toàn vô nghĩa, như tự nguyện kiêng khem; tự giày vò mình bằng cuộc sống độc thân; lãng phí thời gian của mình vào những cuộc hành hương, những nghi lễ kì quái, những lễ cầu nguyện lặp đi lặp lại, và những thứ tương tự; quay lưng lại với hiện thực - và một số người thực ra vẫn còn làm điều này ngay cả vào thời đại khai sáng hiện nay - mọi thứ chẳng để làm gì hết, mọi thứ đều từ tình trạng vô minh và ngu ngốc mà ra; chẳng có gì ngày nay được coi là chuyện nghiêm chỉnh cả, ngoại trừ tất nhiên là như các thứ để ở bảo tàng. Một lịch sử đầy lầm lạc biết chừng nào mà chúng ta đã thoát ra từ đó! Một lịch sử của việc cho là hiện thực, cái mà bất cứ đứa trẻ hiện đại nào cũng đều biết là hoàn toàn phi hiện thực và là chuyện tưởng tượng!". Schumacher gọi thái độ như vậy của con người trung bình thời hiện đại là chủ nghĩa khoa học duy vật luận (materialistic Scientism). Vũ trụ không còn được nhìn nhận như một cấu trúc ngôi thứ vĩ đại hay một Chuỗi của Hiện hữu; nó được nhìn nhận đơn giản như một kết hợp ngẫu nhiên của các nguyên tử; và con người, vốn theo truyền thống được hiểu như một tiểu vũ trụ (tức là có cấu trúc Vũ trụ), không còn được nhìn nhận như một vũ trụ; mà chỉ là một tạo vật có ý nghĩa, ngay dù cho là huyền bí đi nữa. Chúng ta được đưa cho khá nhiều định nghĩa con người, khiến cho nó chẳng phải gì khác, chẳng qua chỉ là một động vật thông minh đặc biệt với một bộ não khá lớn có thể đo đạc được, hoặc là một động vật chế tạo dụng cụ, hoặc là một động vật chính trị, hoặc là một động vật còn chưa định hình, hoặc đơn thuần là một con khỉ trần trụi.

Chủ nghĩa nhân văn xuất hiện như một niềm tin vào bản chất tốt đẹp vốn có của con người để thực hiện sứ mệnh cao cả trên trái đất, nhưng lại dựa vào chủ nghĩa khoa học duy vật luận. Tuy nhiên, các phương pháp khoa học thường nghiệm (vật lí và hóa học) có thể nghiên cứu mọi thứ thuộc thân xác tự nhiên, nhưng không thể thâm nhập vào thế giới vô hình bên trong của sự sống, ý thức và tự-ý-thức ở con người, vốn là những bí ẩn khiến cho con người là con người. Con người trung bình thời hiện đại theo chủ nghĩa khoa học duy vật luận, cho rằng sự sống, ý thức và tự ý thức chẳng phải gì khác, chẳng qua chỉ là những biểu hiện của các xếp đặt phức tạp ở các nguyên tử cấu tạo bộ não - một "đức tin" khiến cho anh ta đặt tín nhiệm đặc biệt vào các giác quan, "dựa vào đầu óc", và bác bỏ bất cứ can thiệp nào từ các "sức mạnh" tinh thần vô hình nào. Đức tin này được hình thành dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của học thuyết tiến hóa.

Thực chất tiến hóa luận là gì? Nhiều nhà khoa học nhìn thấy tiến hóa luận trong sinh vật học là một ngôn ngữ mơ hồ và bao trùm nhiều nghĩa, được áp dụng để bao hàm bất cứ mọi biến đổi nào xảy ra trong thể tạng của một chủng loại có hệ thống trong động vật và cây cối... Về chuyện đã có biến đổi trong thể tạng ở các giống loài động vật và cây cối trong quá khứ, thì điều này đã được chứng thực rất phong phú bởi các hóa thạch tìm thấy trong lớp vỏ trái đất; với trợ giúp của việc xác định thời gian bằng phương pháp phóng xạ, chúng đã được xếp vào chuỗi nối tiếp lịch sử với tính xác định khoa học rất cao. Tiến hóa luận, như việc khái quát hóa trong phạm vi khoa học miêu tả về biến đổi sinh học có thể xem như đã được xác lập không còn gì phải nghi ngờ nữa. Thế nhưng học thuyết tiến hóa là một thứ rất khác: nó khái quát hóa chọn lọc tự nhiên như nguyên nhân duy nhất của biến đổi giống loài, loại trừ mọi nguyên nhân khác. Thực chất đã hình thành một đại tự sự duy vật luận về quá trình hình thành vũ trụ và con người bằng ngôn ngữ có vẻ khoa học. Schumacher nhận xét: "Mọi người gây giống động vật và cây cối đều biết chắc chắn rằng, chọn lọc, bao gồm cả "chọn lọc tự nhiên", đều sinh ra biến đổi; cho nên sẽ là đúng đắn về mặt khoa học nếu nói rằng "chọn lọc tự nhiên đã được chứng minh là một tác nhân của biến đổi tiến hóa." Quả thật chúng ta có thể chứng minh [điều này] bằng việc làm. Thế nhưng thật hoàn toàn không chính đáng, khi yêu sách rằng, việc phát hiện ra cơ chế ấy - chọn lọc tự nhiên - chứng minh rằng tiến hóa "mang tính tự động không còn để lại chỗ cho hướng dẫn và ý đồ kì diệu." Có thể chứng minh được rằng người ta kiếm được tiền do nhặt được ở đường phố, thế nhưng không ai có thể xem đó là đủ lí do để giả định rằng, mọi thu nhập đều được kiếm bằng cách như vậy." Schumacher dẫn ra ý kiến bình luận của Karl Stern (một nhà tâm lí học) về học thuyết tiến hóa như sau:

"Nếu chúng ta trình bày lí thuyết tiến hóa dựa theo luận chứng trong cách phát biểu khoa học nhất, chúng ta sẽ buộc phải nói điều gì đó đại loại như sau: "Tại một thời điểm nhất định nào đó nhiệt độ của Trái đất như thế nào đó khiến cho nó thuận lợi nhất cho việc tụ tập lại các nguyên tử carbon và oxy với tổ hợp nitrogen-hydrogen, rồi do xảy ra tình cờ mà tạo thành các phân tử chùm, được cấu trúc thuận lợi nhất để đi tới sự sống, và từ điểm đó nó sẽ đi qua những quãng thời gian dài, cho tới khi được thông qua các quá trình chọn lọc tự nhiên để cuối cùng có được một hữu thể có khả năng chọn lựa tình yêu ở trên thù hận, và lẽ công bằng ở trên bất công, viết được thi phẩm như Dante, soạn được âm nhạc như Mozart, và tạo được các bức tranh như Leonardo." Lẽ tất nhiên quan điểm như thế về nguồn gốc của vũ trụ thật điên khùng. Nhưng tôi tuyệt nhiên không hàm ý điên khùng trong ý nghĩa câu chửi thóa mạ, mà chỉ hàm ý mang tính kĩ thuật của tâm lí. Quả thực quan điểm như vậy có nhiều điểm chung với một số phương diện nhất định của tư duy loạn thần kinh."

Tuy nhiên, vẫn còn là sự thật, rằng kiểu tư duy như thế này tiếp tục được đưa ra như một khoa học khách quan, không những cho các nhà sinh vật học, mà còn cho bất cứ ai háo hức muốn biết sự thật về nguồn gốc, ý nghĩa và mục đích của tồn tại con người trên Trái đất, và rằng đặc biệt là tại khắp mọi nơi trên thế giới, tất cả các trẻ em đều là đối tượng để truyền bá theo những đường hướng ấy.

Theo Schumacher, nói chung, không thể nào dẫn xuất ra một ĐỨC TIN mà chỉ hoàn toàn dựa vào quan sát các biểu hiện bề ngoài của thế giới. Trong khi đó các nhà khoa học hiện đại vẫn cương quyết giới hạn đối tượng nghiên cứu của họ vào các biểu hiện bề ngoài. Điều này rất tốt đối với các khoa học có mục đích chỉ dẫn cho các ứng dụng thường nghiệm, nhưng không giúp gì cho con người xây dựng được một ĐỨC TIN để có một cuộc sống đúng đắn.

Tình trạng này khiến cho chủ nghĩa nhân văn tất phải lâm vào bế tắc: sứ mệnh "cao cả" mà chủ nghĩa nhân văn muốn thực hiện trên trái đất không thể có được cơ sở nào từ chủ nghĩa khoa học duy vật luận, vốn không hề biết đến các khái niệm "cao cả" hay "thấp hèn". Rốt cuộc con người theo chủ nghĩa khoa học duy vật luận chỉ có một thước đo cho sự thành đạt ở cuộc đời này, ấy là sở hữu được sức mạnh vật chất thật nhiều như có thể. Định hướng tinh thần như vậy có xác đáng hay không là chuyện lựa chọn của mỗi người. Trong khi đó các tôn giáo lớn từ xưa đã có câu trả lời đầy đoan chắc: hạnh phúc của con người là đi lên cao hơn, phát triển được những tính năng cao cả nhất, đạt được tri thức của các sự vật cao hơncao nhất, và nếu có thể thì "được nhìn thấy Thượng đế". Nếu con người đi xuống thấp hơn, chỉ phát triển những tính năng thấp hèn hơn mà con người cùng chia sẻ với các động vật, khi ấy con người sẽ khiến cho bản thân mình bất hạnh sâu sắc, thậm chí rơi vào tuyệt vọng.

Theo Schumacher, sức mạnh tự-ý-thức khiến cho con người là một hữu thể có "kết thúc mở" (open-endedness). Những thành tựu vĩ đại nhất của con người định nghĩa con người - không phải cuộc chạy chung, không phải một hành vi hay khả năng trình diễn trung bình nào đó, và chắc chắn không phải bất cứ thứ gì dẫn xuất ra từ quan sát các động vật. Tất cả mọi người không thể nào đều là xuất chúng, thế nhưng tất cả mọi người, thông qua tri thức về tính người thượng hạng, đều có thể biết được, rằng con người có nghĩa là gì, và rằng cả họ nữa cũng phải có đóng góp. Thật tuyệt diệu được trở thành con người, như một người có khả năng là vậy. Và điều này chẳng đòi hỏi một trợ giúp nào từ khoa học.

E.F. Schumacher đã đưa ra kết luận: " Sống không cần tới các giáo hội, có thể hình dung được là chuyện khả dĩ, nhưng không thể nào sống được mà không có tôn giáo, tức là làm việc có hệ thống nhằm giữ được giao tiếp với các [hiện hữu]Trình độ Cao và phát triển hướng tới chúng, chứ không phải hướng tới "cuộc sống tầm thường" với tất cả niềm vui và nỗi đau, cảm xúc và thỏa mãn, tinh tế hay thô thiển - dù nó có thể là gì đi nữa. Cuộc thí nghiệm hiện đại sống không có tôn giáo đã thất bại, và một khi chúng ta hiểu ra điều này, thì chúng ta biết được những nhiệm vụ "hậu hiện đại" của chúng ta thực ra là gì."

Mục đích của bài viết này không phải nhằm thuyết giảng một ĐỨC TIN tôn giáo cụ thể nào (vốn dĩ là chuyện tự do lựa chọn của mỗi cá nhân), mà chỉ nhằm bác bỏ những định kiến thiếu căn cứ trong quan niệm về tôn giáo. Định kiến cho rằng tôn giáo gắn chặt với giáo hội và nhà thờ hay đền chùa cùng với các thần thánh có nhiều phép lạ - định kiến như vậy đã bén rễ vào con người trung bình thời hiện đại trong một thời gian lịch sử khá lâu ở châu Âu, kéo dài từ thế kỉ XVIII đến nay. Từ ngữ "tôn giáo" dường như đã bị "ô uế" thật sâu, khiến cho nhiều người không muốn gắn việc thuyết giảng một định hướng tinh thần với khái niệm tôn giáo! Tôi không có hiểu biết về ngôn ngữ học nên không biết vì sao người Trung Hoa (hay Nhật Bản?) lại dịch từ religion là tôn giáo. Schumacher đã nhận xét: " Tôn giáo (Religion) là sự kết nối lại (re-legio) con người với hiện thực, bất kể Hiện thực ấy được gọi là Thượng đế, Sự thật, Allah, Sat-Chit-Ananda, hay là Niết bàn (Nirvana)."

Thế nhưng ngay cả một khái niệm được con người trung bình thời hiện đại sùng bái là KHOA HỌC, cũng gắn với những định kiến rất khác biệt. Bản thân tôi thời học sinh trung học cũng đã từng ngưỡng mộ vật lí học vì nó tạo ra "bom nguyên tử"! Mãi nhiều năm sau, đi sâu vào khoa học vật lí, tôi mới hiểu được rằng: thực chất của khoa học vật lí không hề nhắm tới ứng dụng kinh khủng ấy; các thiên tài đặt nền móng cho vật lí học hiện đại, như Newton và Einstein, chẳng hề dính dáng trực tiếp với các ứng dụng công nghệ. Thế nhưng công nghệ tinh xảo hiện nay vẫn đang làm lóa mắt những tâm hồn trẻ thơ thời hiện đại, khiến cho họ tin tưởng vào sức mạnh toàn năng của khoa học thường nghiệm!

Nguyễn Văn Trọng 

Tham khảo : http://caphethubay.net/tac-gia/mot-chi-dan-cho-nguoi-bi-boi-roi.html

Đôi nét về tác giả

Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kiev năm 1965 với chuyên ngành vật lý lý thuyết, ông bảo vệ luận án phó tiến sĩ khoa học tại Kiev sau đó về Việt Nam làm việc tại Viện Vật lý. Giáo sư có hơn 30 công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học nước ngoài. Bên cạnh đó, ông GS còn gắn với những tác phẩm dịch thuật như J.S. Mill, Bàn về tự do; J.S. Mill, Chính thể đại diện; R. P. Feynman, Ý nghĩa mọi thứ trên đời; A.I. Herzen, Từ bờ bên kia ; I. Berlin, Bốn tiểu luận về tự do…