Cái mới thuộc về thiểu số, nhưng là thiểu số quan trọng - Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy
Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy

Cái mới thuộc về thiểu số, nhưng là thiểu số quan trọng

10:15:25 04-09-2017

(Caphethubay.net)- Người từng đảm nhận vai trò Tổng đạo diễn chương trình “Nửa thế kỷ Bài hát Việt Nam” tại Nhà hát Lớn Hà Nội cách đây hơn 20 năm, trong đó không quên ghi nhận giá trị của những ca khúc Bolero – một lựa chọn gây tranh cãi gay gắt ở thời điểm đó; cũng là người từng đổ nhiều tâm sức cho sân chơi “Bài hát Việt” để cổ vũ những giá trị mới... – cho rằng: “Về âm nhạc, muốn đánh giá là thụt lùi hay phát triển thì phải nhìn vào khu vực âm nhạc như là một hoạt động nghệ thuật chứ không phải như là một hoạt động giải trí”.

Một phần bài phỏng vấn này được đăng trên báo Lao động số đặc biệt 2/9/2017. Dưới đây là bản đầy đủ : 

PV : Là người từng đổ tâm huyết dàn dựng một chương trình đồ sộ, có tính “tổng kiểm kê gia tài âm nhạc Việt” -  “Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam”, với 4 đêm diễn liên tiếp tại NH Lớn Hà Nội cách đây hơn 20 năm, ông có thể giúp đưa ra một nhận định về chỗ đứng, sự “suy thịnh” của cái gọi là “dòng nhạc bolero” ở ta trong dòng chảy chung đó của nhạc Việt?

-Trong các tiết điệu Phương Tây du nhập vào Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ 20, có 3 tiết điệu được các nhạc sĩ Việt Nam ưa chuộng nhất: Valse, Tango và Bolero bởi sự du dương, quyến rũ của nó, đặc biệt là Bolero. Tiết điệu ấy phù hợp với tâm sinh lý của người Việt nên công chúng cũng cảm thấy dễ nghe, dễ đàn và dễ hát hơn. Được người nghe ưa chuộng lại dễ phổ biến nên “nhạc Bolero” có đất để phát triển. Người có học cũng nghe Bolero nhưng họ thích các điệu Valse và Tango hơn, còn giới bình dân thì đại bộ phận là Bolero.  Mà giới bình dân là công chúng vô cùng đông đảo nên Bolero chiếm thế thượng phong là đương nhiên.

Bolero không phải là một dòng nhạc, mà là một phong trào. Phong trào này bắt đầu từ Miền Nam từ thập niên 50 của thế kỷ trước là do đặc điểm văn hóa vùng miền (người Bắc ưa chèo cổ, người Nam chuộng cải lương mà Bolero về mặt nào đó rất gần với cải lương). Vào TPHCM từ năm 1977, được tiếp xúc với giới nhạc Sài Gòn cũ, nhất là các nhạc công và ca sĩ khi còn phụ trách các tụ điểm âm nhạc lớn của TPHCM: Quận 10, Quận 11, tôi thường được nghe nói nhiều về các tác phẩm Bolero của Trúc Phương, Lam Phương và Vinh Sử, đặc biệt là Trúc Phương mà nhiều nghệ sĩ cùng làm việc với tôi cho ông là một nhạc sĩ lớn nhất.  Tôi làm nhạc trẻ và nhạc bán cổ điển nên rất ít khi biên tập các bài bolero trong chương trình. Tuy vậy cũng nghe khá nhiều để tìm câu trả lời cho mình vì sao người ta thích Bolero đến như thế. Một phong trào nhạc đáp ứng cho hàng triệu người nghe hẳn phải có một giá trị gì chứ. Những năm đó Bolero bị dè bỉu là nhạc sến, có nhạc sĩ sáng tác tuyên bố “ngồi xổm” 15 phút là viết được một bài Bolero.  Tôi không nghĩ như thế. Đó là thứ văn hóa khác, anh không ở trong nó anh không thể. Thái độ cực đoan, lấy ý thích của mình làm chuẩn mực để phủ nhận những gì khác đã dẫn đến việc từ chối một di sản văn hóa của người bình dân đô thị Miền Nam, điều này thật không ổn. Đấy là lý do khi biên tập cho chương trình “Nửa thế kỷ bài hát” tôi đã đưa Bolero vào. Tại “thánh đường nghệ thuật” của Hà Nội, những tác phẩm bolero của Trúc Phương. Lam Phương, Minh kỳ đã vang lên mà khán giả khá chọn lọc đêm ấy ở Nhà Hát Lớn không một ai phản ứng. Riêng hai bài Bolero do cô Bảo Yến hát (“Mưa trên phố Huế” của Minh Kỳ và “Lời người ra đi” của Trần Hoàn) thì được vỗ tay rất lâu để đòi Bảo Yến hát lại. Có một cái gì đó rất thương cảm trong những bài Bolero nếu chúng ta trút bỏ được định kiến sẽ cảm nhận được, nó giống như cái thương cảm khi nghe quan họ Bắc Ninh những “Bèo dạt mây trôi”, “Người ơi người ở đừng về”, cái thương cảm đó chắc Bolero bên Tây (Mỹ La Tinh) là không thể. Tiết điệu Bolero của bên Tây nhưng giai điệu có nguồn gốc từ dân ca Nam Bộ vì thế tôi coi dòng nhạc Bolero Sài Gòn là dân ca mới, Dân ca đô thị của người Nam.

Trong chương trình Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam tại Nhà hát Lớn Hà Nội (1994), ca sĩ Bảo Yến đã thể hiện xúc động những bản nhạc mang tiết điệu Bolero

Bolero trước 1975 là như thế. Sau 1975 nó hòa vào âm nhạc cách mạng và phát triển vẫn ở phía Nam nhưng nó không cạnh tranh được với Nhạc Cách Mạng Nhạc Trẻ và phong trào Tình Ca Mới. Giờ thì Bolero có vẻ như “át giọng” tất cả, đặc biệc là ở Miền Bắc. Chuyện Bolero “bùng nổ” ở Miền Bắc cũng thể coi là một khía cạnh của thống nhất văn hóa: Những giá trị văn hóa bình dân của người Nam đã được người Bắc coi trọng, giống như những năm tháng vàng son của sân khấu Cải Lương Hà Nội đã từng (trước 1954).

Sức sống của một dòng nhạc nằm ở nhu cầu của người nghe. Bolero hưng thịnh trở lại bởi nhiều người thích nó và cũng bởi truyền thông cho Bolero áp đảo các dòng nhạc khác. Trong thời buổi kinh tế thị trường định hướng XHCN, cái gì dễ kiếm tiền thì lao vào . Nên ông bầu, biên tập viên âm nhạc, nhạc sĩ, ca sĩ, nhà báo, nhà đài nếu ai đó có “Bolero” thì cũng chẳng trách họ được.

PV : Chuyển vào SG sống từ năm 1977, hai năm sau ngày giải phóng, hẳn ông từng chứng kiến đời sống của bolero ở giai đoạn này. Hãy nhớ lại, tâm trạng của ông như thế nào khi nghe những ca khúc đó, ở nơi mà nó thịnh hành hơn cả, và hẳn là lúc đó vẫn còn dư âm mạnh?

-Như tôi đã nói ở trên, sau 1975, Bolero còn nhưng không mạnh nữa đâu. Thời đó là thời của các nhóm Ca khúc chính trị, thời của “Sài Gòn nhạc trẻ”. Tụ điểm ca nhạc lớn nhất của TPHCM là Tụ điểm quận 10, mỗi đêm có hàng 4,5 ngàn khán giả, nhưng nó là tụ điểm nhạc trẻ. Bolero dạt về tỉnh.  Tôi không có văn hóa Bolero trong người nên thấy mình không phù hợp với dòng nhạc này, nhưng khi tiếp xúc với các bạn nghề, họ kể về nó rất hay, nhất là khi gặp anh Vinh Sử một “Bolero hạng nặng”, anh ấy rất dễ thương nên tôi cố gắng nghe Bolero để tìm hiểu để nhận ra những cái đặc sắc của nó. Từ đó dù không phải là người hâm mộ Bolero nhưng tôi nhìn nó bằng một con mắt khác và chơi được với các bạn nghề có máu Bolero trong người như anh Quốc Dũng và một vài nhạc sĩ khác. Tôi quí họ và sống hòa đồng với họ.

PV : Đó cũng chính là giai đoạn mà như ông từng chia sẻ với tôi trong một bài phỏng vấn là: “Nhiều lúc tôi ngồi hàng giờ nhìn vào bóng tối, thậm chí không hiểu mình sống để làm gì và đã nghĩ đến chuyện nên kết thúc nó...”. Những lúc đó, ở nơi đó, ông có nhu cầu nghe những bản bolero để tìm kiếm sự đồng cảm hay không? Trong những hoàn cảnh như thế, theo ông, người ta nên hay là không nên nghe bolero?

-Khi buồn tôi thường nghe Chopin, âm nhạc của ông đã cứu tôi khỏi những khủng hoảng nội tâm ngay từ thời trai trẻ, mặc dù nó cũng rất buồn. Mỗi người đều sống trong những thực trạng văn hóa của riêng mình. Tôi không hiểu những người khác mỗi khi buồn họ nghe Bolero thì như thế nào. Đây là bí mật của tâm hồn, ta chẳng nên cho ai một lời khuyên cả.

PV : Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha từng cho biết: Trước và sau khi dàn dựng “Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam”, ông cùng BTC chương trình đã từng gặp phải rất nhiều khó khăn và rắc rối vì đã quyết “điểm danh” các tác phẩm của những nhạc sĩ Sài Gòn trước 30.04.1975 vào danh mục gia tài nhạc Việt. Trong đó, nghe nói có các ca khúc bolero? Chương trình lẽ ra còn có thêm 4 đêm tại Sài Gòn nhưng vì vấp phải những tiếng nói không đồng thuận, xung quanh vấn đề này? Vì sao lúc đó ông lại quyết đưa những ca khúc đó vào, thay vì những lựa chọn an toàn khác?

-Làm “Nửa thế kỷ Bài Hát Việt Nam” là để thống nhất văn hóa. Bolero là một Di sản Văn hóa của người bình dân đô thị Miền Nam tại sao lại loại bỏ nó chỉ vì định kiến cực đoan rất không đáng có. Có nhạc Tiền chiến, nhạc Kháng Chiến, nhạc Hậu tiền chiến , nhạc Cách mạng, nhạc lãng mạn Sài Gòn trước 1975 , nhạc sau 1975 thì cũng phải có Bolero chứ. Di sản văn hóa của một dân tộc không phải chỉ là văn hóa chính thống mà còn là văn hóa bình dân nữa chứ. Làm chương trình này bị chống đối nhiều lắm, không phải chỉ từ Hội Âm nhạc TPHCM mà ngay từ Hội Nhạc Sĩ. May mà hai anh lãnh đạo cao nhất của Hội là Anh Ca Lê Thuần và Hồng Đăng cương quyết ủng hộ tôi, và cả bộ trưởng văn hóa Trần Hoàn nữa nên Bolero mới có thể vang lên ở Nhà hát Lớn.

Các công việc tôi làm đều có mục đích rõ ràng. Làm được thì làm, không làm được lúc này thì để đấy đợi dịp khác. Lựa chọn an toàn thì không thể nào đạt được mục đích của mình, làm như thế để làm gì? Tất nhiên đấy chỉ là suy nghĩ của tôi thôi. Nhiều người có thể làm khác và nghĩ khác.

Dương Thụ : Mỗi người đều sống trong những thực trạng văn hóa của riêng mình

PV: Nhạc bolero hiện nay đang bùng nổ ngay cả ở nơi từng “dị ứng” với nó nhất là Hà Nội, từ phòng trà cho đến game show, live show... Có nhận định rằng: Phải chăng vì đời sống lúc này nhiều bức bối căng thẳng nên người ta càng có nhu cầu thả mình vào những giai điệu bolero? Hoặc giả, là do những giá trị mới trong âm nhạc chưa đủ sức thuyết phục họ. Ông thiên về nhận định nào hơn?

-Để thưởng thức thì cần phải có hiểu biết và có nhu cầu về các giá trị nghệ thuật và về cái mới. Nhưng để giải trí thì cần cái gì dễ hiểu, có câu chuyện kể, dễ nghe, nhẹ nhàng , du dương cho nó đỡ nhức đầu. Bolero đáp ứng được yêu cầu này. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vô cùng phức tạp cũng đã nhức đầu lắm rồi, nên Bolero thôi. Nhạc trẻ, nhạc hàn lâm (thính phòng – giao hưởng) chỉ đáp ứng nhu cấu của một bộ phận người nghe trong giới trẻ và những người có học thức, nó vẫn đang phát triển và đang tạo ra những giá trị mới nhưng giới truyền thông và các ông bầu không để ý nên bạn có cảm tưởng thế thôi.

PV : Sự bùng nổ đó theo ông liệu có cho thấy một sự “thụt lùi”?

-Cái gì thụt lùi, thẩm mỹ của người nghe hay hoạt động  âm nhạc nói chung? Cái này phụ thuộc vào cách nhìn nhận và đánh giá của bạn về công chúng và âm nhạc. Bạn có chắc công chúng ngày xưa thẩm mỹ tốt hơn bây giờ không? Bạn có chắc hoạt động âm nhạc thật sự chỉ là nhạc thị trường, là Bolero thế còn các loại âm nhạc không Bolero, không thị trường khác? Tôi không chắc điều này. Xưa Miền Bắc chỉ nghe có một loại nhạc và thường nghe miễn phí nên không thể đánh giá được. Nay đi xem phải mất tiền và nghe trên Đài cũng có rất nhiều loại nên họ có quyền và phải lựa chọn nên thẩm mỹ bây giờ mới là thực chất. Còn về âm nhạc muốn đánh giá là thụt lùi hay phát triển thì phải nhìn vào khu vực âm nhạc như là một hoạt động nghệ thuật chứ không phải như là một hoạt đông  giải trí. Khu vực này, như tôi đã trả lời câu hỏi ở trên, đang phát triển đấy, cả nhạc thính phòng giao hưởng, lẫn nhạc nhẹ. Sự phát triển rất đáng khích lệ , mặc dù nó chưa phải là một sự “bùng nổ” như Bolero.

PV : Hiện đang tồn tại rất nhiều cách hiểu, cách gọi về bolero: 1 điệu nhạc? 1 dòng nhạc? 1 nhánh của nhạc vàng (những bản nhạc vàng được viết theo điệu bolero)? Lại cũng có người đồng nhất khái niệm bolero với nhạc vàng, nhạc sến... Xin ông một định nghĩa chuẩn?

 -Bolero như bạn đang nói tới là một dòng nhạc  chứ không phải là tên một tiết điệu hay là một nhánh của nhạc vàng. Tiết điệu Bolero thì ở dòng nhạc khác cũng có, tùy người sáng tác. Còn nhạc vàng chỉ là một cách gọi những tác phẩm tiền chiến, hậu tiền chiến và nhạc lãng mạn sau 1954,  nó không phải là một khái niệm có tính chất khoa học và nó cũng chẳng có nhánh nào cả.

PV : “Nhạc sang” được mặc định dành cho giới “thượng lưu”, “nhạc sến” thì dành cho giới bình dân. Xuất thân “con nhà địa chủ”, lại còn hẳn hoi là “bậc con nhà”; nhưng lại cũng từng làm đủ nghề lầm than trước khi đi dạy và trở thành nhạc sĩ, ông có đồng tình với nhận định đó?

-Thành phần giai cấp chẳng có ý nghĩa gì ở đây. “Sang” hay “sến” cũng thế.

Cách đây 10 năm trước, một nhạc sĩ trẻ khi còn là sinh viên khoa sáng tác Nhạc viện Hà Nội đã nói với tôi một câu xanh rờn: “Giờ mà anh còn nghe Chopin, sến thế”. Tôi chỉ biết mỉm cười “nhận lỗi” . Bạn ấy đã đúng với những gì bạn ấy hiểu còn mình có sến hay không cũng vẫn chỉ là mình thôi. Đây là điều tôi không bao giờ tranh cãi.

Nhạc được gọi là sang, sang nhất (theo dư luận) là nhạc của anh Trịnh Công Sơn thế mà tôi vẫn thấy hàng xóm trong con hẻm nghèo của tôi và cả các anh thợ hồ khi làm nhà cho tôi vẫn hát đấy.

PV : Ông từng nói: “Tôi không có ý gieo hy vọng cho ai, mà cũng chẳng dám tạo nỗi buồn cho ai”. Ông có nghĩ, đó là một thái độ “trung lập” cần có của âm nhạc?

-Đấy không phải là một thái độ “trung lập cần có của âm nhạc” mà là một thái độ của riêng tôi trong âm nhạc. Tôi không có quyền gì để gieo hy vọng hay tạo nỗi buồn cho những người khác. Hy vọng hay nỗi buồn chỉ là chính tôi.  Người khác khi nghe có hy vọng hay có buồn không lại là việc của họ. Tôi không “mắc nợ” người nghe vì những chuyện này.  Quan niệm về một sứ mạng cao cả của nghệ sĩ thì tôi không dám.

PV : Từng đổ tâm huyết cho “Nửa thế kỷ bài hát Việt”, “Điều còn mãi”..., lại cũng hào hứng dồn tâm sức cho một sân chơi dành cho các sáng tác mới như “Bài hát Việt” và luôn cổ vũ, nâng đỡ những nghệ sỹ trẻ thuộc nhiều dòng nhạc..., ông có quan điểm ra sao trước sự tồn tại đan xen của các dòng nhạc cũ/mới, “sang/sến” mà lâu nay vẫn thường gây tranh cãi ở ta?

-Tôi chẳng có “quan điểm “ gì cả. Hãy để cuộc sống vận hành theo qui luật của nó. Cái không thích hợp, cái lỗi thời rồi sẽ bị đào thải. cái ăn nhịp được sẽ phát triển. Tốc độ của nó ra sao còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác (kinh tế, thể chế chính trị, môi trường văn hóa và sự hội nhập với bên ngoài).

PV : Nhắc đến Dương Thụ là nhắc tới khái niệm “nhạc tử tế”. Trong một cuộc giao lưu trực tuyến, ông từng đưa ra nhận định: “Người nghe hiện nay, đa phần là nghe giải trí. Nghe cái gì cho đỡ nặng đầu... Nhạc xưa là diễm tình nhất, nhạc thị trường là sôi động nhất. Nhạc mới, nhạc tử tế, cái tiếng hát của thời đại mình đang sống, không phải là không có, nhưng mấy người hát, mấy người nghe...”. Tới giờ này, ông còn giữ cái nhìn đó không? Một nền âm nhạc sẽ đi về đâu, nếu cái mới ít được chào đón và luôn thuộc về thiểu số, theo ông?

-Tới giờ này tôi còn giữ cái nhìn đó không ư? Chắc vẫn thế, nhưng hiểu ra rồi nên cũng đỡ buồn hơn. Từ cổ chí kim, ở đâu cũng vậy chứ chẳng riêng gì ở nước ta, cái mới bao giờ cũng ít được chào đón và nó luôn luôn thuộc về thiểu số nhưng là một thiểu số quan trọng có khả năng thay đổi bộ mặt văn hóa của một đất nước.

Chắc bạn có nghe bài “Lắng nghe mùa xuân về”: mầm non nào rồi cũng sẽ nhú, nụ hoa nào rồi cũng sẽ nở và mùa xuân nhất định sẽ đến. Nhưng tôi đã bước sang tuổi 75 rồi không biết có còn kịp thấy cái mùa xuân tôi đã từng lắng nghe ấy không.

PV : Khi đề cập đến nỗi buồn trong âm nhạc, ông từng chia sẻ với tôi rằng: “Nỗi buồn đáng giá nhất là nỗi buồn của những tâm hồn khỏe mạnh, trong sáng. Những nỗi buồn gắn với khát vọng sống, khát vọng nghề nghiệp, gắn với tình người, với xã hội, với nơi mình sinh sống, với đất nước. Những nỗi buồn ấy trở thành động lực, có thể tạo nên sự nghiệp, tạo thành những sản phẩm tinh thần và vật chất cho xã hội...”. Đó là những điều rất khó tìm thấy ở bolero. Theo ông, đó có là một lý do để chúng ta không nên quá đắm chìm vào bolero, dù nó dễ nghe, dễ thuộc, và vẫn trường tồn?

-Chúng ta là ai? Chắc không phải là tôi, các bạn bè của tôi, cả già lẫn trẻ. Người thích Bolero có những lý do của họ. Trừ việc họ nghe để giải trí, họ có thể tìm thấy ở Bolero cái gì đó tốt hơn cho  tâm hồn họ mà bạn không biết. Tôi có biết chuyện ông Lê Duẩn khi còn là lãnh đạo ở trong Nam đã cấm hát cải lương vì cho nó là èo uột ủy mị thiếu sức sống, thiếu tính chiến đấu. Nhưng tôi cũng biết có nhiều người nghiền cải lương vẫn trở thành dung sĩ đó thôi.  Đấy cũng là một bí mật của tâm hồn.

PV : Cũng trong cụm bài phỏng vấn trên, diva Thanh Lam nhận định: “Vẻ đẹp quyến rũ nhất trong âm nhạc Dương Thụ không phải sự ngây thơ mà là lãng mạn. Lãng mạn cả khi tận cùng của nó là đau đớn. Chính vì từng rất đau đớn nên nỗi buồn ở chú mới ẩn sâu đến thế, và sự lãng mạn cũng mới có thể bay cao đến thế – như một cách để chú thoát ra…”. Nhận định đó theo ông có xác đáng? Đó có phải là cách ông thường dùng để vượt thoát ra khỏi những nỗi buồn bi lụy, trong sáng tác cũng như trong đời sống?

-Tôi buồn nhưng chẳng bi lụy bao giờ. Còn cô Thanh Lam nói đúng. Một người thấu hiểu mình như thế là một người tôi phải hàm ơn.

PV : Ở thời điểm Thanh Lam bị cho là vạ miệng khi bảo “không biết Hồ Ngọc Hà và Đàm Vĩnh Hưng sẽ dạy gì ở The Voice”, ông từng thể hiện chính kiến: “Câu chuyện này không nên làm to ra vì thực ra với tôi nó chỉ bé tí tẹo. Cái dở là khi làm to ra thì chính những người liên quan sẽ trở thành nạn nhân. Điều này chả hay ho gì cả. Tất nhiên, có một chuyện phi lý ở đời, càng không hay ho thì lại càng nổi tiếng. Nên tôi chả biết các người có liên quan có muốn tiếp tục nữa hay không?!”. Trong câu chuyện ồn ào xoay quanh phát ngôn cũng bị cho là “vạ miệng” vừa qua của  Tùng Dương về bolero, ông có muốn nhắc lại chính kiến đó?

-Chuyện Tùng Dương thì khác đấy. Câu ấy trả lời phỏng vấn rất nghiêm túc và đúng mực. Chúng ta nên lắng nghe những ý kiến khác biệt với sự tôn trọng. Mỗi người đều có suy nghĩ về con đường nghệ thuật của mình và có thể có những nhận xét về những cái khác mình.  Tùng Dương đã làm điều ấy một cách chân tình, không đề cao việc mình đang làm và cũng không báng bổ con đường của kẻ khác. Nhận xét của Tùng Dương là khách quan.  Tôi đọc và thấy những ý kiến như thế sẽ tốt cho công luận. Còn việc “ném gạch đá” về chuyện này, với thời buổi hiện nay cũng là bình thường.

NS Dương Thụ : Tùng Dương là một nam ca sĩ thật sự của hôm nay

PV : Cuối cùng, xin ông một đánh giá về con đường của Tùng Dương? Theo ông, với những gì đã làm được, Tùng Dương liệu đã đủ tư cách để góp một tiếng nói vào đời sống âm nhạc, dù là một tiếng nói trái chiều, gây tranh cãi?

-Cậu ấy cùng lứa với Khánh Linh, nhưng vượt lên được nhờ tính quyết đoán. Bản lĩnh nghệ thuật quyết định sự thành bại của một nghệ sĩ. Tôi biết Tùng Dương từ lúc còn tuổi thiếu niên, nhưng tôi không thể hình dung cậu bé Tùng Dương lại được như bây giờ, một nam ca sĩ thật sự của hôm nay pha trộn được giữa sự đa dạng và tính độc đáo, có một con đường hoàn toàn toàn riêng biệt mang tính đương đại, điều mà nhiều giọng hát khác không làm được. Hát Bolero ăn khách, nổi tiếng là điều khỏi phải bàn. Nhưng hát Chiếc khăn Piêu, Con cò, Li ti và những bài “ngang phè” của Lê Minh Sơn thời kỳ đầu mà nổi tiếng được thì chắc chỉ có Tùng Dương. Trước tôi nghĩ đến bằng Kiều, nhưng nay Bằng Kiều là ca sĩ của những bài hát lãng mạn xưa. Vậy là niềm hy vọng của tôi đã có  Tùng Dương thế chỗ.

Âm nhạc của ngày hôm nay cần có tác giả và ca sĩ của nó. Tác giả thì có, nhưng ca sĩ nổi tiếng thì phần lớn tìm cách cover lại “nhạc xưa” để cho nó “sang” hoặc kiếm được nhiều tiếng vỗ tay để nới rộng khả năng “chạy sô”, còn người như Tùng Dương quá hiếm. Người như thế hoàn toàn đủ tư cách để góp một tiếng nói vào đời sống âm nhạc.

Thuỷ Lê (thực hiện)

Tham khảo : https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/nhac-si-duong-thu-su-thut-lui-cua-am-nhac-khong-o-hoat-dong-giai-tri-562404.ldo

 

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Đôi nét về tác giả

Tốt nghiệp Khoa Văn - Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1965, sau đó đi lên dạy học cấp 3 ở Tuyên Quang. Năm 1972, ông thi đỗ vào Khoa Sáng tác, Nhạc viện Hà Nội (cùng đợt với Nguyễn Cường và Trần Tiến), tuy nhiên do những rắc rối về hành chính nên năm thứ hai Đại học ông phải trở về Tuyên Quang làm giáo viên dạy Văn tại trường Thanh niên Lao động XHCN Tuyên Quang. Năm 1978, ông chuyển vào miền Nam, làm Giảng viên ĐH Mỹ thuật TP.HCM. Năm 1982, ông chuyển sang hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp. 2009 đến nay đồng sang lập và điều hành chuỗi không gian văn hoá Cà phê Thứ Bảy.