Hệ diễn ngôn thi pháp Trung Quốc truyền thống nhìn từ viễn cảnh thuyên thích học (P3) - Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy
Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy

Hệ diễn ngôn thi pháp Trung Quốc truyền thống nhìn từ viễn cảnh thuyên thích học (P3)

18:44:33 17-04-2018

(Caphethubay.net) - Vậy tính tình là gì? Cũng như bao nhiêu trường hợp khác Viên Mai cũng “mặc định” là chúng ta ai cũng hiểu cụm từ ấy muốn nói gì.

Nhìn từ quan điểm thuyên thích học lịch sử, chẳng qua “tính tình” cũng là một biến thể khác của “khí” (Tào Phi) hay “phong cốt” (Lưu Hiệp) mà thôi. Thậm chí họ Viên còn dẫn thơ Hứa Hồn: “Ngâm thi hảo tự thành tiên cốt. Cốt lý vô thi mạclãng ngâm” (Ngâm thơ cũng giống như thành tiên vậy/ Trong xương mà không có thơ thì đừng có ngâm tràn).[1]Không những yêu cầu nhà thơ cần có “tính tình” độc đáo Viên Mai còn nhấn mạnh ngay cả người đọc thơ cũng phải có “cốt cách” thi nhân mới có thể thưởng thức được thơ. Đây cũng chỉ là vọng âm của diễn ngôn truyền thống. Lưu Hiệp cũng đã nói đến vấn đề này trong chương Tri Âm(Văn tâm điêu long): “Phàm người làm văn thì tình cảm xúc động mà ngôn từ phát ra. Người xem văn thì căn cứ vào lời văn để thâm nhập vào tâm hồn của tác giả. Nương theo sóng mà tìm đến nguồn, dù u ẩn cũng hiển lộ ra= Phù chuế văn giả tình động nhitừ phát, quan văn giả phi văn dĩ nhập tình, duyên ba thảo nguyên, tuy u tất hiển). Nguyên lý căn cốt của thuyên thích học thi pháp Trung Hoa và Việt Nam có thể xác lập ở đây: tính đồng vị giữa khí chất/ tài năng/ tâm hồn/ tính cách của nhà văn và khí chất/ tài năng/ tâm hồn/ tính cách của người đọc. 

Đỗ Phủ, thi nhân lớn của văn học Trung Hoa

Chúng ta hãy quay lại Hàn Dũ một chút. Khi nói rằng Hàn Dũ có một đóng góp mới vào hệ diễn ngôn thi pháp Trung Quốc truyền thống, chúng tôi muốn nhấn mạnh việc ông không đơn thuần lập lại một quan điểm của Tào Phi hay Lưu Hiệp. Cấu hình xã hội đời Đường có những thay đổi mang tính chất đột phá khiến cho tính phi ngã của người sáng tác cũng nhường chổ cho việc nhấn mạnh đến cái nhìn độc đáo của thi nhân. Lưu Đại Kiệt, một nhà nghiên cứu người Trung Quốc, viết: “Việc nhà Đường sử dụng chế độ khoa cử đã phá vỡ chế độ môn phiệt (tức tuyển sĩ theo hướng trọng nguồn gốc xuất thân) từng tồn tại hàng mấy trăm năm, tạo điều kiện cho tầng lớp tri thức cấp dưới nhưng ưu tú, thông qua khoa cử, có thể tiến thân, tham dự vào vũ đài chính trị. Điều này không chỉ phản ánh sự tiến bộ ở phương diện chính trị, mà đồng thời cũng phản ánh sự tiến bộ ở lĩnh vực văn học. Có thể nói đây chính là một thời kỳ mới cho việc giải phóng và phổ cập văn hóa.”[2]Nhưng sự giải phóng này thực ra vẫn gắn kết với hệ diễn ngôn thi pháp truyền thống thông qua nguyên lý căn cốt mà chúng tôi đã đề cập: tác giả-tác phẩm-người đọc tạo thành một “trường văn học” (literary field) nhất quán, chia sẻ những mã văn hóa-tư tưởng-thuyên thích chung không thể tách rời, không thể thấu hiểu nếu nhìn từ một “trường văn học” khác với các hệ giá trị định hướng khác. Ví dụ khí luận của Tào Phi vẫn được Tô Triệt (1039-1113), một trong Đường Tống Bát Đại Gia, bảo vệ: “Triệt này vốn sính chuyện văn chương. Suy nghĩ cho đến cùng cực có thể kết luận rằng văn là hình hài thể hiện ra của khí. Nhưng văn tài thì không thể học được, còn khí thì có thể nuôi dưỡng được= Triệt sinh hảo vị văn. Tư chi chí thâm, dĩ vi văn giả khí chi sở hình. Nhiên văn bất khả dĩ học nhi năng, khí khả dĩ dưỡng nhi chính).[3]Chương Học Thành (1738-1801), một học giả đời Thanh, cũng có quan điểm tương tự mặc dù ông có định hướng sùng cổ và đạo đức mạnh mẽ hơn họ Tô: “Điều kiện tiên quyết để rèn luyện văn chương vào thời xưa là dưỡng khí. Muốn dưỡng khí thì phải noi theo cổ nhân rèn luyện các hành vi đạo đức= Cổ chi năngvăn giả tất tiên dưỡng khí. Dưỡng khí chi công tại ư tập nghĩa).[4]Cần lưu ý là, từ quan điểm của Chương Học Thành, “dưỡng khí” và “tập nghĩa” áp dụng cho cả người muốn sáng tác và người muốn thưởng thức cổ văn. 

Thương lang thi thoại滄浪詩話của Nghiêm Vũ (khoảng 1195-1245), tác phẩm thi thoại nổi tiếng nhất trong lịch sử phê bình văn học Trung Quốc, gồm có 5 chương (thibiện, thi thể, thi pháp, thi bình, khảo chứng). Điểm đặc biệt nhất của tác phẩm này là việc Nghiêm Vũ sử dụng các khái niệm và ngôn ngữ của Thiền Tông vào việc đánh giá và phân tích văn học. Trải nghiệm thưởng thức văn học được so sánh với con đường thâm nhập vào cảnh giới của diệu ngộ: “Thơ có biệt tài, không quan hệ gì đến sách vở. Thơ có biệt thú, không liên quan gì đến lý luận= Phù thi hữu biệt tài, phi quanthư dã. Thi hữu biệt thú, phi quan lý dã).[5]Nói khác đi, ngôn từ trong bài thơ là công cụ dẫn đến sự giác ngộ tâm linh, đạt đến cảnh giới aletheia, thấu triệt vào bản chất của tồn tại hiện sinh trong ánh sáng của trực quan. Trong cái nhìn của Nghiêm Vũ, từ Kinh Thi, Sở Từ, mười chín bài cổ thi, cho đến thi ca thời Thịnh Đường là những chân lý căn nguyên, sơ thủy nhất mà bất kỳ ai muốn dấn thân vào thi đạo cũng phải trải nghiệm qua. Ông viết: “Học thơ phải lấy thức làm chủ. Nhập môn cần phải theo đường chính đạo. Lập chí cần phải cao viễn. Tôn các nhà thơ trong thời Hán, Ngụy Tấn, Thịnh Đường làm thầy= Phù học thi dĩ thức vi chủ. Nhập môn tu chính.Lập chí tu cao. Dĩ Hán Ngụy Tấn Thịnh Đường vi sư).[6]Nghiêm Vũ sử dụng những ngôn từ Thiền Tông để nói về việc học thơ và sáng tác: “hướngthượng nhất lộ” (=chỉ một đường đi lên đỉnh), “trực tiệt căn nguyên” (trực chỉ suối nguồn), “đốnmôn” (cổng dẫn vào sự đốn ngộ), “đơn đao trựcnhập” (một đao vào thẳng). Một mặt, cảnh giới diệu ngộ của thi đạo được tắm trong một làn ánh sáng lung linh, huyền ảo khiến chúng ta nhớ đến các thuật ngữ “ý ngoại,” “cảnh ngoại,” “ngônngoại” (vượt qua khỏi ý, vượt qua khỏi cảnh, vượt qua khỏi ngôn từ) khá phổ biến vào cuối đời Đường, đặc biệt là trong tác phẩm của Tư Không Đồ (837-908), tiền bối của thuyết “thần vận” của Vương Sĩ Trinh (1634-1711) đời Thanh. Một mặt chúng ta thấy Nghiêm Vũ vẫn tiếp tục di chuyển trong quỹ đạo của hệ diễn ngôn thi pháp truyền thống khi nhấn mạnh việc tôn sùng các tác phẩm qui điển trong lịch sử văn học Trung Quốc. Điểm mới của ông là thêm vào danh sách trên các nhà thơ thời Thịnh Đường. Ngôn ngữ Phật Giáo trong Thương Lang thi thoạichỉ phản ánh tính phổ biến của tôn giáo này vào đời Tống khi đất nước đang đứng trước thảm họa diệt vong. Ngô Thì Nhậm cũng có những lời lẽ tương tự khi viết lời tựa cho tập thơ Hoàng công thi tập: “Đến như phép tắc của thơ, đó chính là phần bí mật của thánh nhân không thể truyền lại được, ta chỉ có thể hiểu được bằng cái thần, chứ không thể bằng tri thức thông thường được= Chí ư thi chi pháp luật, thử nãithánh nhân bất truyền chi mật, khả dĩ thần khiết, nhi bất khả dĩ tri sách dã).[7]

Hệ diễn ngôn thi pháp Trung Quốc truyền thống có thể xem là kết thúc với tác phẩm Nguyên thicủa Diệp Tiếp (1627-1703), hoàn thành năm 1686. Stephen Owen đã đánh giá Nguyên thi, với tư cách là một tác phẩm thi học, cao hơn chính Văn tâm điêu long.[8]Giống như nhiều học giả đương thời, Diệp Tiếp cực lực phê phán những nhà thơ trọng cổ suy kim, xem Kinh Thilà thủy tổ của thi ca Trung Quốc và những tác phẩm về sau thuộc Hán, Ngụy, Đường, Tống chỉ là sự trượt dốc xa dần với nguồn gốc ban đầu. 

Về bản chất của thi đạo Diệp Tiếp cho rằng có ba yếu tố căn bản: lý, sự, và tình. Ông viết: “Ta chỉ cần ba từ là bao gồm hết: đó là lý tự nhiên, hoàn cảnh khách quan, và tình cảm thông thường, mọi thứ không ra ngoài ba yếu tố này. Đó là đạo của văn chương vậy. Trước hết xem xét cái lý tự nhiên, nếu phù hợp với lý tự nhiên thì xem là đắc lý. Kế đến tìm bằng chứng trong sự việc khách quan. Nếu sự việc khách quan không trái với nguyên lý tự nhiên thì được xem như đắc sự. Cuối cùng xem có phù hợp với tình cảm thông thường hay không, nếu thông suốt được thì xem như đắc tình. Ba yếu tố này đều đạt được không thay đổi thì phép tắc tự nhiên được xác lập =Dư đắc dĩ tam ngôntế chi: viết lý, viết sự, viết tình, bất xuất hồ thử nhi dĩ. Nhiên tắc thi văn nhất đạo. Tiên quỹ hồ kỳ lý. Quỹ chi ư lý nhi bất mậu, tắc lý đắc. Thứ trưng chi ư sự. Trưng chi ư sự nhi bất bội, tắc sự đắc. Chung khế chi ư tình. Khế chi ư tình nhi khả thông, tắc tình đắc. Tam giả đắc nhi bất khả dịch, tắc tự nhiên chi pháp lập).[9]Chúng tôi phỏng đoán rất có thể Lê Quý Đôn đã vay mượn ý này của Diệp Tiếp khi ông cho rằng “cốt yếu làm thơ có ba điều: tình, cảnh, và sự […] Tình là người, cảnh là trời, sự là hợp thiên địa mà quán thông.”[10]

Một khái niệm khác, sau khái niệm “khí,” cũng chiếm vị trí chủ đạo trong thẫm mỹ học nói chung và thi học Trung Quốc nói riêng, chính là “thần.” Lưu Đại Khôi (1698-1779), một trong ba nhân vật chủ chốt của lưu phái Đồng Thành (hai người kia là Phương Bao và Diêu Nãi), tác giả của Luận văn ngẫu ký, là đại biểu lớn nhất cho xu hướng “dĩ thần vi chủ.” Ông viết: “Phương pháp làm văn lấy thần làm chủ lấy khí phụ vào. Tào Phi và Tô Triệt lấy khí làm chủ. Điều đó đúng nhưng khí phải theo thần. Khi thần sung mãn thì khí mênh mang như biển. Khi thần đi xa thì khí phiêu bồng phóng dật. Khi thần lớn lao thì khí cao viễn. Thần biến hóa thì khí mờ ảo. Thần sâu xa thì khí trầm ổn. Cho nên nói thần là chủ của khí= Hành văn chi đạo thần vi chủ khí vi phụ chi. Tào tử Hoàn Tô tử Do luận văn dĩ khí vi chủ thị hĩ. Nhiên khí tùy thần chuyển. Thần huy tắc khí hạo. Thần viễn tắc khí dật. Thần vĩ tắc khí cao. Thần biến tắc khí kỳ. Thần thâm tắc khí tĩnh. Cố thần vi khí chi chủ).[11]Khâu Chấn Thanh giải thích quan điểm của họ Lưu như sau: “Thần là chủ đề của tác phẩm, cái đó phải là mấu chốt. Thứ đến là khí, tức là tình điệu và khí thế của tác phẩm.”[12]Giải thích “thần” là “chủ đề của tác phẩm” như Khâu Chấn Thanh rõ ràng là không ổn. Hai tác giả Ổ Quốc Bình và Vương Trấn Viễn có kiến giải hợp lý hơn: “Thần chỉ tài năng thiên phú, tài năng phẩm cách của tác giả.”[13]Đây là một quan niệm thuộc phạm trù mỹ học, nghệ thuật, có sức khái quát cao, do Lưu Đại Khôi rút ra từ triết học Trang Tử. Ông viết: “Thần và khí là hai điểm tinh hoa tối cao của văn chương=Thần khí giả, văn chi tối tinh xứ dã)” và “Thần là chủ của khí, khí là dụng của thần=Thần giả, khí chi chủ. Khí giả, thần chi dụng).[14]Quách Thiệu Ngu cho rằng “thần” tức là “phép tắc” (pháp) còn “khí” tức là “khí thế.”[15]Giải thích “thần” là “pháp” cũng không ổn. Nói như A.C. Graham hợp lý hơn: “Thần không phải là một tinh thần cá nhân (personal spirit) mà là một loại năng lực trí tuệ thần minh (daemonic power ofintelligence) hoạt động giữa trời và đất.”[16]

Dương Ngọc Dũng

TÀI LIÊU THAM KHẢO

  • Chương Bồi Hằng & Lạc Ngọc Minh chủ biên, Trung Quốc văn học sử, quyển thượng (NXB. Phúc Đán Đại Học xuất bản xã, trọn bộ 3 quyển, 1996).
  • David E. Pollard, A Chinese Look at Chinese Literature: The Literary Values of Chou Tso-jen in Relation to the Tradition(NXB. University of California Press, 1973).  
  • Dương Ngọc Dũng, Dẫn luận tư tưởng lý luận văn học Trung Quốc(NXB. Văn Học, Hà Nội, 1999).
  • Haun Saussy, The Problem of the Chinese Aesthetic(NXB. Stanford University Press, 1993). 
  • Hồ Hiểu Minh, “Thi học rủi ro: Đặc chất của thơ Đỗ Phủ,” bản dịch Vũ Xuân Bạch Dương, in trong Kỷ yếu Hội thảoQuốc Tế Kỷ Niệm 1.300 năm năm sinh thi hào Đỗ Phủ(NXB Văn Học, 2013).
  • James J.Y. Liu, Chinese Theories of Literature(NXB. University of Chicago Press, 1979).
  • Johann Martin Chladenius, Einleitung zur richtigen Auslegung vernünftiger Reden und Schriften. Leipzig, 1742. 
  • Kha Khánh Minh & Tăng Vĩnh Nghĩa (chủ biên), Lưỡng Hán Ngụy Tấn Nam Bắc Triều văn học phêbình tư liệu vựng biên(NXB. Đài Bắc, 1978).
  • Khâu Chấn Thanh, Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc(NXB. Giáo Dục, Hà Nội, 1994). 
  • Kim Lương Niên, Mạnh tử dịch chú(Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1995).
  • Kinh Thi, tập 1, bản dịch của Tạ Quang Phát (NXB. Văn Học, Hà Nội, 2004). 
  • Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, quyển 2 (NXB. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1995. Bản dịch của Tạ Quang Phát). 
  • Lịch sử văn học Trung Quốc,Sở Nghiên Cứu Văn Học, Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc, tập 1, bản dịch của nhóm Lê Huy Tiêu (chủ biên), (NXB. Giáo Dục, Hà Nội, 2007).
  • Lục Khản Như & Mâu Thế Kim, Văn tâm điêu long dịch chú,tập 1 (NXB. Tề Lỗ thư xã, 1981).
  • Mã Kỳ Sưởng, Hàn Xương Lê văn tập hiệu chú(NXB. Trung Hoa Thư Cục, Thượng Hải, 1964).
  • Martin Heidegger,Elucidations of Holderlin's Poetry,ed. Keith Hoeller (Amherst:Humanity Books, 2000). 
  • Martin Heidegger, Being and Time. Bản tiếng Anh của John Macquarie và Edward Robinson (London,1962).
  • Nguyễn Đình Phức, Thi pháp thơ Đường(NXB. Đại Học Quốc Gia, TP. HCM, 2013).
  • Nguyễn Đình Phức & Lê Khánh Trường, Thi phẩm tập bình(NXB. Văn Nghệ, TP. HCM 2007).
  • Pauline Yu, The Reading of Imagery in the Chinese Poetic Tradition(Princeton University Press, 1987).
  • Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí,tập 5 (NXB Trẻ, TP. HCM, 2014).
  • Phó Cánh Sinh, Trung Quốc văn học phê bình thôngluận(NXB. Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1947). 
  • Quách Thiệu Ngu, Trung Quốc văn học phê bình sử(NXB. Bách Hoa Văn Nghệ Xuất Bản Xã, Thiên Tân, 1992).
  • Siu-kit Wong, Early Chinese Literary Criticism(NXB. Joint Publishing Company, Hong Kong, 1981).
  • Stephen Owen, Readings in Chinese Literary Thought(NXB. Harvard University Press, 1992). 
  • Stephen Owen, Traditional Chinese Poetry and Poetics(NXB. Wisconsin University Press, 1985).
  • Steven Van Zoeren, Poetry and Personality: Reading, Exegesis, and Hermeneutics in Traditional China(NXB. Stanford University Press, 1991).
  • Tam Tào tư liệu hội biên (NXB. Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh, 1980).
  • Thi kinh chú tích, tập hạ (Trung Hoa thư cục, 2007), Trình Tuấn Anh và Tưởng Kiến Nguyên chú giải.
  • Thơ văn Lý Trần, tập 1 (NXB. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977).
  • Trần Đình Hượu, Nho Giáo và văn học Việt Nam trung cận đại(NXB. Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1995). 
  • Trần Đình Hượu tuyển tập, tập 2, bài “Nho gia và văn học nghệ thuật,” (NXB. Giáo dục, Hà Nội, 1999).
  • Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, Cao Bá Quát toàn tập, tập 2 (NXB. Văn Học, Hà Nội, 2012).
  • Tu Weiming, Centrality and Commonality(University of Hawaii Press, 1976).
  • Tùy Viên thi thoại. Bản dịch của Trương Đình Chi (NXB. Văn Nghệ TP. HCM, 2002).
  • Tuyển tập văn thơ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, tập 1 (NXB. Hà Nội, 2010).
  • Từ trong di sản- những ý kiến về văn học từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 20(NXB. Tác Phẩm Mới, Hà Nội, 1981),
  • Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 1 (NXB. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 2003). 
  • Victor Mair (chủ biên), The Columbia History ofChinese Literature(NXB. Columbia University Press, 2001).  
  • Vương Hoán Tiêu (chủ biên), Trung Quốc văn học phê bình luận văn tập(Thượng Hải, 1946. Bản in lại Đài Bắc, 1957).
  • Vương Phu Chi, Cổ thi bình tuyển, trong bộ Thuyền Sơn toàn tập,tập 15 (NXB. Đài Bắc, 1965).
  • William Nienhauser Jr. (chủ biên), tập 1, The Indiana Companion to Traditional Chinese Literature(NXB. Indiana University Press, 1986). 

[1]Tùy viên thi thoại, sđd, thoại 2, tr. 19.

[2]Lưu Đại Kiệt, Trung Quốc văn học phát triển sử(1957). Dẫn theo Nguyễn Đình Phức, Thi pháp thơ Đường(NXB. Đại Học Quốc Gia, TP. HCM, 2013), tr. 125. 

[3]Tứ bộ tùng san, Thượng khu mật Hàn Thái Úy thư, Loan Thành tập, 22/1a. 

[4]Bạt Hương Tuyền độc thư ký, Chương Thị di thư, ngoại tập (Thượng Hải, 1936), 2/64-65. 

[5]Stephen Owen, Readings in Chinese Literary Thought, tr. 405. 

[6]Stephen Owen, Readings in Chinese Literary Thought, tr. 394. 

[7]Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 1 (NXB. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 2003), tr. 782. 

[8]Stephen Owen, Readings in Chinese Literary Thought,tr. 493. 

[9]Stephen Owen, Readings in Chinese Literary Thought,tr. 497. Không hiểu sao Stephen Owen lại dịch “tình” là “hoàn cảnh” (circumstance). Chúng tôi hiểu “tình” là “tình cảm nhân văn nói chung.” Đúng ra “sự” mới là “hoàn cảnh.”

[10]Vân đài loại ngữ, sđd, tr. 125. Xem thêm Đỗ Văn Hỷ, “Thơ với nhà thơ Lê Quý Đôn,” Tạp chí Văn Học(số 6, 1984). Phạm Quang Trung, Văn chương với Lê Quý Đôn(NXB. Đại học Đà Lạt, 1993). Đinh Thị Minh Hằng, “Thêm một hướng tiếp cận di sản văn học của Lê Quý Đôn,” Tạp chí Văn Học(số 4, 1994). Tất cả các nhà nghiên cứu này không ai nhắc đến ảnh hưởng của Diệp Tiếp đối với tư tưởng Lê Quý Đôn. 

[11]Vương Hoán Tiêu (chủ biên), Trung Quốc văn học phê bình luận văn tập(Thượng Hải, 1946. Bản in lại Đài Bắc, 1957), tr. 166-167. 

[12]Khâu Chấn Thanh, Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc(NXB. Giáo Dục, Hà Nội, 1994), tr. 174. 

[13]Theo Vương Vận Hi & Cố Dịch Sinh, Thanh đại văn học phê bình sử(NXB. Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã, 1995), tr. 550. 

[14]Quách Thiệu Ngu, Trung Quốc văn học phê bình sử(NXB. Bách Hoa Văn Nghệ Xuất Bản Xã, Thiên Tân, 1992), tr. 322-323. 

[15]Quách Thiệu Ngu, Trung Quốc văn học phê bình sử,tr. 323. 

[16]A.C. Graham, Two Chinese Philosophers(NXB. London, 1958), tr. 111-112.