Khởi nguyên quý tộc của văn hóa và số phận của tầng lớp trí tuệ - Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy
Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy

Khởi nguyên quý tộc của văn hóa và số phận của tầng lớp trí tuệ

13:52:48 21-12-2017

(Caphethubet.net) - N. Berdyaev (1874-1948) là triết gia Nga nổi tiếng của thế kỉ 20. Năm 1922 ông cùng nhiều trí thức và những người hoạt động văn hóa nổi tiếng khác bị trục xuất khỏi nước Nga Xô viết. Cùng với S. L. Frank và S. N. Bulgakov,  Berdyaev là những người đặt cơ sở cho sự phục hưng nền triết học tôn giáo Nga. Ông cũng được xem là người có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh Pháp. Bài viết này nằm trong chương 4 Số phận con người trong thế giới đương đại.

Tất cả mọi người giờ đây đều đang nói về cuộc khủng hoảng văn hóa và lo ngại cho tương lai của nó. Điều này trở thành chủ đề chung. Cuộc khủng hoảng văn hóa về mặt xã hội gắn với sự tình là mọi văn hóa đỉnh cao đều đặc trưng bởi khởi nguyên phẩm tính quý tộc, vốn đang lâm nguy cực lớn do quá trình dân chủ hóa và cào bằng từ sự thống trị của đám đông. Chúng ta đang sống trong thời đại nổi loạn của bầy đàn chống lại mọi khởi nguyên quý tộc trong văn hóa. Các nhà nước toàn trị mới mang tính bầy đàn đầy kiên quyết trong quan hệ với văn hóa và hàm nghĩa sự thống trị của số lượng trước phẩm chất.

Triết gia Nikolai Alexandrovich Berdyaev

Văn hóa Hi lạp-La Mã cổ đại đã mang tính quý tộc theo nguyên tắc của nó, là nền văn hóa duy trì và gìn giữ các phẩm tính. Cả văn hóa thời Phục hưng cũng mang tính quý tộc. Văn hóa phát triển nhờ vào tình trạng nhàn rỗi, nhờ vào khả năng bộc lộ ra tình trạng dồi dào sáng tạo, văn hóa ước định tình trạng bất bình đẳng. Văn hóa chưa bao giờ đã từng tồn tại cho toàn bộ đám đông nhân loại và cũng chưa bao giờ thỏa mãn các nhu cầu và đòi hỏi của nó. Tính nhân dân của văn hóa hoàn toàn không hàm nghĩa sự tương ứng với trình độ của quần chúng nhân dân và việc thực hiện các đơn đặt hàng của nó. Tính nhân dân là biểu hiện tinh thần của nhân dân, thiên tài có thể biểu hiện điều này tốt hơn quần chúng.

Thế nhưng hiện nay người ta ngày càng đòi hỏi văn hóa phải mang tính nhân dân nhiều hơn nữa, theo nghĩa tương ứng với các nhu cầu và đòi hỏi của quần chúng nhân dân. Điều này làm biến đổi hẳn tính chất của văn hóa và biến nó thành một hiện tượng thuộc loại hoàn toàn khác, vốn có thể đặt cho nó một cái tên khác. Đôi khi người ta đặt tên cho hiện tượng này là văn minh, nhưng dĩ nhiên thuật ngữ này cũng là ước lệ. Sự thống trị của đám đông quần chúng và của các phẩm tính vô diện mạo, lúc thì có hình thức của các nền dân chủ tư sản với nền chuyên chế của đồng tiền, luôn luôn ẩn giấu và được ngụy trang, lúc thì có hình thức của các nhà nước toàn trị với nền chuyên chế công khai của các lãnh tụ, [sự thống trị ấy của đám đông] đặt tầng lớp sáng tạo văn hóa, tầng lớp tinh hoa văn hóa, vào tình cảnh hết sức nặng nề. Tầng lớp tinh hoa văn hóa này đang trải qua cơn hấp hối tử vong, tình cảnh đạo đức và vật chất của nó ngày càng không sao chịu đựng nổi. Trong nền dân chủ tự do nó phụ thuộc vào tiền bạc và thị hiếu dung tục của đám đông, trong nền chính thể toàn trị nó phụ thuộc vào nền chuyên chế thế giới quan, phụ thuộc vào chính quyền có tham vọng tổ chức lại tinh thần. Chúng ta đang sống trong thời đại của các "đơn đặt hàng xã hội". Đơn đặt hàng của quần chúng xác định xem văn hóa, nghệ thuật, văn học, triết học, khoa học, thậm chí cả tôn giáo nữa, phải như thế nào. Và không có đơn đặt hàng xã hội nào cho nên văn hóa phẩm tính cao nhất, cho nền văn hóa tinh thần, cho nền triết học chân chính, cho nền nghệ thuật chân chính. Đơn đặt hàng xã hội tồn tại chủ yếu là cho kĩ thuật, cho khoa học tự nhiên mang tính ứng dụng, cho kinh tế, không có đơn đặt hàng cho những gì gắn với tinh thần và tính chất tinh thần. Năng lượng tinh thần chuyển sang và hướng vào những đối tượng hoàn toàn không thuộc loại tinh thần. Tầng lớp văn hóa trí tuệ hoàn toàn không được bảo vệ về mặt xã hội, sự tồn tại của nó mất đi mọi cơ sở vật chất, nó bị treo lơ lửng trong không khí và rất thường hay cảm nhận thấy tình trạng không cần thiết cho ai của bản thân, nó buộc phải thích ứng để khỏi bị rơi vào vực thẳm.

Tình cảnh của những người khởi xướng và sáng tạo văn hóa tinh thần chưa khi nào là được dễ dàng, nó đã không dễ dàng và bình thường vào thời phục hưng. Khắp nơi họ đã sáng tạo chẳng biết cho ai, nhưng sáng tạo của họ tương đối được tự do. Về mặt vật chất các nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ, nhà khoa học phải phụ thuộc vào các mạnh thường quân. Thế nhưng họ đã sống trong một xã hội phân tầng phức tạp, chứ không phải một xã hội đồng phục, họ đã không phải chịu nền chuyên chế về tinh thần và họ đã có thể lạng lách.

Chủ nghĩa tư bản thế kỉ XIX với kinh tế luận và nền chuyên chế giấu mặt của đồng tiền đã làm méo mó và biến dạng tính thanh sạch của văn hóa, bắt nó thích ứng với lợi ích của các giai cấp tư sản. Về hình thức các nhà sáng tạo văn hóa được hoàn toàn tự do, nhưng họ bị áp bức về vật chất, cảm thấy nỗi cô đơn, không được thừa nhận, bị thiếu thốn. Và rất nhiều người sáng tạo văn hóa thời kì tư sản tự do đã hoài vọng về một nền văn hóa toàn dân và "hữu cơ". Tình trạng cô đơn xã hội của những người sáng tạo văn hóa là hiện tượng đặc trưng của thời kì tư sản. Người ta thường hãnh diện về tình trạng cô đơn ấy và trân trọng việc được ở trong tình trạng đó. Tình trạng cô đơn này đôi khi là tình trạng của những nhóm người thuộc giới tinh hoa.

Vào thời trung đại, ở Hi lạp cổ đại, văn hóa đã có tính toàn nhân dân, "hữu cơ". Tính chất toàn nhân dân ấy hoàn toàn khác hẳn so với thế kỉ dân chủ của chúng ta, bởi vì khối quần chúng đã sống ở trong thân thể hữu cơ ngôi thứ được rạng chiếu theo tinh thần tôn giáo. Thời đó chưa hề có tình trạng tách rời giữa những người sáng tạo văn hóa, giữa tầng lớp trí tuệ và đời sống toàn nhân dân. Đó là nền văn hóa của đơn đặt hàng xã hội, cho phép và ước định khởi nguyên quý tộc theo phẩm tính của văn hóa. Thế nhưng nền văn hóa ấy xa lạ với chủ nghĩa cá nhân của thời phục hưng và tư sản, đó là nền văn hóa mang tính tập thể. Nền văn hóa Hi lạp cổ đại là nền văn hóa của đơn đặt hàng xã hội ở mức độ lớn hơn mức độ mà người ta vẫn hằng tưởng, nghệ thuật hoàn toàn không phải là "nghệ thuật thuần túy", nó đã đóng vai trò phục vụ xã hội. Nền văn hóa Hi lạp vừa mang tính toàn nhân dân, nhưng lại vừa mang tính quý tộc. Đối với những thời đại "hữu cơ" xưa kia, sự kết hợp tính toàn nhân dân và tính hữu cơ ở trong văn hóa là nét đặc trưng.

Nghệ thuật thời Hi-La mang tính toàn dân nhưng cũng mang tính quý tộc

Vào thời đại ngày nay, vốn hướng tới chủ nghĩa tập thể, mọi thứ đều thay đổi. Khối quần chúng tiếp cận với văn hóa. Điều này là tất yếu và chính đáng. Khối quần chúng không thể nào cứ ở lại trong tăm tối. Thời quá khứ khối quần chúng tiếp cận với văn hóa thông qua tôn giáo. Văn hóa của tầng lớp nhân dân đã hầu như hoàn toàn là văn hóa tôn giáo, và ở trong nền văn hóa ấy đã có kết nối của tầng lớp nhân dân với tầng lớp văn hóa quý tộc. Chỉ có tôn giáo mới mới có khả năng tạo ra được những kết nối như thế. Triết học, khoa học, giáo dục, nghệ thuật, văn học không có được khả năng đó. Nền văn hóa phẩm tính cao, nhưng mất đi cơ sở tôn giáo, nhất định sẽ tách rời khỏi đời sống toàn nhân dân và tạo thành tầng lớp tinh hoa văn hóa khu biệt, cảm nhận thấy mình không cần thiết cho nhân dân. Nền văn hóa nhân văn chưa bao giờ mang tính nhân dân, nó là nền văn hóa của tầng lớp trí tuệ ở bên trên, đã mất đi cơ sở xã hội. Tính chính đáng của dân chủ hóa đưa các khối quần chúng nhân dân đông đảo tiếp cận với văn hóa, lại có khía cạnh ngược lại trong việc hạ thấp trình độ phẩm tính của văn hóa. Quá trình này không chỉ hàm nghĩa khối quần chúng được nâng cao trình độ văn hóa và nhu cầu văn hóa của họ được kích thích, mà còn hàm nghĩa khối quần chúng bắt đầu thống trị văn hóa và bắt văn hóa thích ứng với trình độ của mình. Văn hóa theo nghĩa rộng bị kéo xuống tính thường nhật xã hội ở đời sống của khối quần chúng. Văn hóa của giới tinh hoa càng thêm khu biệt hơn nữa, trở nên tinh luyện, những dấu hiệu của cái chết được bộc lộ ra ở đó và các đại biểu của nó có khẩu vị hướng tới cái chết. Đây là tình trạng suy đồi của văn hóa, bị cạn kiệt ngọn nguồn của sự sống.

Một bộ phận khác của các nhà hoạt động văn hóa muốn thoát thân, cố thích ứng với khối quần chúng, thích ứng với khẩu vị và nhu cầu của họ, toan tính thực hiện đơn đặt hàng xã hội. Thế nhưng bản thân sự tồn tại của tầng lớp tinh hoa văn hóa, bị tách rời khỏi đời sống toàn nhân dân, ngày càng trở nên không cần thiết và bất bình thường. Tầng lớp tinh hoa văn hóa không có tương lai. Cuộc khủng hoảng văn hóa phẩm tính này và số phận đáng buồn của tầng lớp trí tuệ có vẻ như không có lối thoát ở bên ngoài một cuộc cách mạng tinh thần trên thế giới, ở bên ngoài một sự hồi sinh tôn giáo. Sự hồi sinh văn hóa thuần túy đã là bất khả dĩ theo tuổi tác của thế gian, chỉ có cuộc hồi sinh tôn giáo là khả dĩ, chỉ có nó mới đủ sức giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa khởi nguyên quý tộc và khởi nguyên dân chủ, giữa khởi nguyên cá nhân và khởi nguyên xã hội ở trong nền văn hóa.

................

Hiểu sáng tạo văn hóa như phục vụ cho mục đích siêu cá biệt là đúng đắn. Tính vị kỉ của tầng lớp trí tuệ không thể được biện minh. Ý tưởng phục vụ siêu cá biệt hầu như hoàn toàn biến mất vào thời đại phục hưng và tự do luận. Thế nhưng ý tưởng phục vụ siêu cá biệt không những không đối lập với tự do tinh thần, tự do sáng tạo, mà nó chỉ khả dĩ thực hiện được thông qua tự do ấy.

Phục vụ sáng tạo là phục vụ tự nguyện, nó không thể giống như nghĩa vụ lao động hay nghĩa vụ quân sự. Chuyên chế tinh thần không những làm mất đi tự do sáng tạo, mà nó còn mua chuộc những người sáng tạo văn hóa và đòi hỏi họ sự phản bội, tạo ra thái độ quỵ lụy của nô lệ và bắt buộc họ thực hiện những đơn đặt hàng nhà nước dưới đe dọa trừng phạt. Chuyên chế thế giới quan làm tê liệt lương tâm của những người sáng tạo, và chỉ có sự kháng cự anh hùng của lương tâm tự do mới có thể đứng vững được. Việc mua chuộc những người sáng tạo văn hóa trở nên dễ dàng vì rằng hoàn cảnh của họ đã trở nên rất nặng nề cả về tinh thần lẫn vật chất, họ không được bảo vệ về mặt xã hội và biến thành những kẻ thất nghiệp. Tầng lớp trí tuệ bị đe dọa hoặc là phải tiêu vong do không còn cần thiết, hoặc là phải biến thành những quan chức ngoan ngoãn của nhà nước ý thức hệ, thừa hành nền chuyên chế tinh thần.

Tầng lớp trí tuệ văn hóa cao cấp từ lâu đã có cuộc sống khép kín biệt lập, tách rời khỏi mọi cơ sở xã hội rộng lớn, tách rời khỏi đời sống toàn nhân dân. Đã xảy ra không chỉ tình trạng phân chia, mà còn là tình trạng đứt đoạn giữa trí tuệ lí thuyết và thực hành, giữa trí tuệ và hành động, giữa "tinh thần" và "vật chất". Điều này dẫn đến tình trạng bất lực và suy sụp. Chủ nghĩa nhân văn, như nền tảng của văn hóa châu Âu, đã bất lực trong việc khôi phục lại sự thống nhất và bất lực trong việc nâng đỡ tầng lớp văn hóa, khi ngọn gió vũ trụ bắt đầu nổi lên. Chủ nghĩa nhân văn không đủ sức dứng vững được trong các quá trình kĩ thuật hóa đời sống, sự xâm nhập của khối quần chúng, cuộc dân chủ hóa và các thứ khác nữa. Như đã nói, nó không thể cứu được khởi nguyên quý tộc của văn hóa và của tính độc đáo cá nhân. Những nền chuyên chế thô bỉ đã cố thiết lập thống nhất, dựa trên giải thể tính nhân bản. Ý tưởng nền văn hóa hữu cơ và chế độ hữu cơ của xã hội ở thế kỉ XIX và XX là ý tưởng lãng mạn, và quyền lực ngày càng gia tăng của kĩ thuật đang giáng cho nó những đòn đánh không sao đỡ nổi. Thế gian đang đi đến thống nhất không phải hữu cơ thảo mộc, mà là thống nhất kĩ thuật có tổ chức. Thế nhưng khi ở trong các quá trình vũ trụ và xã hội đang xảy ra mà đặt ra vấn đề về số phận của bản thân con người, về cứu độ con người, về cuộc đấu tranh chống lại cuộc giải thể nhân bản của toàn bộ cuộc sống, thì chúng ta tất yếu phải đi đến vấn đề tôn giáo, phải đi đến cuộc khủng hoảng tinh thần và đi đến việc xuất hiện trạng thái tinh thần mới ở cõi trần gian.

Nguyễn Văn Trọng (trích dịch)

Đôi nét về tác giả

Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kiev năm 1965 với chuyên ngành vật lý lý thuyết, ông bảo vệ luận án phó tiến sĩ khoa học tại Kiev sau đó về Việt Nam làm việc tại Viện Vật lý. Giáo sư có hơn 30 công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học nước ngoài. Bên cạnh đó, ông GS còn gắn với những tác phẩm dịch thuật như J.S. Mill, Bàn về tự do; J.S. Mill, Chính thể đại diện; R. P. Feynman, Ý nghĩa mọi thứ trên đời; A.I. Herzen, Từ bờ bên kia ; I. Berlin, Bốn tiểu luận về tự do…