Lev Tolstoy bàn về tôn giáo - Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy
Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy

Lev Tolstoy bàn về tôn giáo

08:26:23 27-08-2018

(Caphethubay.net) - Lev Tolstoy không chỉ là một nhà văn lớn, mà còn là một nhà tư tưởng lớn, đặc biệt, khi ông viết về tôn giáo.

Thời gian gần đây tôi (Nguyễn Văn Trọng- CPTB) được đọc tác phẩm The Kingdom of God is Within You (Vương quốc Thiên chúa ở bên trong của anh) của văn hào Nga Lev Tolstoy. Tôi không tìm được nguyên bản tác phẩm này bằng tiếng Nga mà buộc phải làm việc với bản dịch tiếng Anh của dịch giả Constance Garnett (New York, 1894). Nhìn vào niên đại của bản dịch có thể thấy nó đã được thực hiện lúc sinh thời của Lev Tolstoy. Trong Lời nói đầu của cuốn sách này (Lev Tolstoy, Yasnaia Poliana, 1893) Lev Tolstoi đã viết một đoạn như sau:" Như tôi đã dự đoán, cuốn sách của tôi bị cơ quan kiểm duyệt Nga cấm đoán; thế nhưng phần nào do danh tiếng văn chương của tôi, phần nào do cuốn sách kích thích trí tò mò, nên nó vẫn được lưu truyền dưới dạng chép tay hay in thạch bản ở nước Nga, hay thông qua các bản dịch ở nước ngoài; chuyện này xảy ra một mặt là từ những người chia sẻ những tín niệm của tôi, một loạt các tiểu luận súc tích bàn về đề tài, một mặt khác là một loạt các phê phán về những nguyên lí được viết ra trong cuốn sách của tôi."

Cuốn sách là một công trình của Lev Tolstoy bàn về Tôn giáo nói chung và Kitô giáo nói riêng. Tôi chưa có dự định dịch toàn bộ cuốn sách vì nhiều lí do, nhưng tôi rất ấn tượng với một số ý kiến sâu sắc của ông về tôn giáo, đặc biệt là chương III và chương IV. Chương III có nhan đề Christianity Misunderstood by Belivers (Kitô giáo bị các tín đồ hiểu sai)có nội dung phê phán những hiểu lầm về Kitô giáo của các giáo hội. Trong chương IV với nhan đề Christianity Misunderstood by Men of Science (Kitô giáo bị các người trong giới khoa học hiểu sai)Lev Tolstoy phê phán những người trong giới khoa học đã hiểu sai tôn giáo như thế nào. Nhiều phê phán của ông tôi thấy rất xác đáng vì bản thân tôi cũng đã có thời hiểu tôn giáo sai lầm giống như vậy. Đó cũng là lí do tôi dịch một số các trích đoạn của hai chương đó ở dưới đây. 

Bìa cuốn sách Vương quốc Thiên chúa ở bên trong của anh

Trong tác phẩm này Lev Tolstoy có nhắc đến một cuốn sách khác của ông đã viết trước đó với nhan đề Tôi tin vào điều gìcũng bàn về tôn giáo. Trong danh mục các tác phẩm  của Lev Tolstoy bằng nguyên bản tiếng Nga tôi thấy có tác phẩm này, nhưng đó không phải là tác phẩm mà tôi trích dịch ở đây.]

Thông tin mà tôi nhận được sau khi cuốn sách của tôi [Có lẽ Tolstoy có ý nói tác phẩm Tôi tin vào điều gì- ND] ra đời, cho thấy rằng học thuyết Kitô giáo trong ý nghĩa đơn giản và trực tiếp của nó đã được hiểu và đã luôn luôn được hiểu rõ bởi một thiểu số người, trong khi đó những người phê phán của giới giáo hội và giới suy nghĩ tự do lại phủ nhận khả năng tiếp thu lời dạy của Đức Kitô trong ý nghĩa trực tiếp của nó. Tất cả chuyện này thuyết phục tôi rằng, trong khi một mặt việc hiểu đúng học thuyết đó chưa bao giờ bị mất đối với một thiểu số, mà còn ngày càng được làm sáng tỏ hơn nữa, một mặt khác ý nghĩa của nó ngày càng bị làm cho tăm tối đối với đa số. Cho nên rốt cuộc một chiều sâu của tăm tối đã đạt được, ấy là người ta không tiếp thu trong ý nghĩa trực tiếp của nó ngay cả những châm ngôn giản dị nhất được bày tỏ bằng những lời lẽ giản dị nhất ở trong Phúc âm.

Lời dạy của Đức Kitô nói chung không được hiểu trong ý nghĩa chân thực, đơn giản và trực tiếp của nó ngay cả thời bây giờ, khi mà ánh sáng của Phúc âm đã xuyên thấu vào cả những ngóc ngách tăm tối nhất của ý thức con người; khi mà những lời nói của Đức Kitô được tuyên truyền công khai như rót vào tai người ta; khi mà Phúc âm đang ảnh hưởng đến mọi mặt của cuộc sống con người - nội trị, kinh tế, dân sự, lập pháp và quốc tế. Tình trạng thiếu hiểu biết đúng đắn lời nói của Đức Kitô vào thời đại như vậy hẳn là chuyện không thể giải thích nổi, giả sử như không có những nguyên nhân của nó.

Một trong những nguyên nhân ấy, đó là các tín đồ và những người vô tín ngưỡng được thuyết phục thật vững chắc rằng họ đã hiểu biết lời dạy của Đức Kitô từ rất lâu rồi, và rằng họ hiểu nó thật đầy đủ, thật rõ ràng và dứt khoát, đến nỗi không thể có được một ý nghĩa nào khác với ý nghĩa mà họ gán cho nó. Lí do của tín niệm đó, ấy là việc diễn giải ngụy tạo và hiểu sai đi kèm theo, về Phúc âm là một lầm lẫn tồn tại đã quá lâu. Dòng nước mạnh nhất cũng không thể thêm được một giọt vào li nước đã đầy.

Những đề tài khó hiểu nhất vẫn có thể giải thích được cho một người chậm hiểu nhất, nếu như anh ta chưa định hình cho mình một ý tưởng nào đó từ trước rồi; thế nhưng điều giản dị nhất cũng không thể làm sáng tỏ cho một người thông minh nhất, nếu như anh ta đã được thuyết phục vững chắc rằng anh ta biết rõ nó rồi, không có chút nghi ngờ nào về vấn đề được đặt ra.

Học thuyết Kitô giáo được trình bày cho những người của thế giới thời nay như là một học thuyết mà ai ai cũng đã biết từ lâu và đã được chấp nhận không chút do dự trong mọi chi tiết nhỏ nhặt nhất, vốn không thể được hiểu bằng bất cứ cách nào khác hơn với cách hiểu hiện nay.

Kitô giáo ngày nay được hiểu bởi tất cả những người rao giảng các học thuyết của giáo hội, xem nó như khải huyền kì diệu siêu tự nhiên về mọi thứ vốn được nhắc đi nhắc lại trong tín điều. Với những người vô tín ngưỡng, nó được xem như một minh họa cho khao khát của con người muốn tin vào siêu tự nhiên và nay con người đã vượt qua nó như một hiện tượng lịch sử, điều này đã được biểu lộ đầy đủ trong Thiên chúa giáo, Chính thống giáo Hi Lạp và tôn giáo Tin lành, và hiện nay chẳng còn có ý nghĩa sinh động nào đối với chúng ta. Ý nghĩa của Phúc âm bị che giấu đối với các tín đồ bởi Giáo hội và đối với những người vô tín ngưỡng bởi Khoa học.

............

(Trích đoạn lấy từ chương III)

*

Bây giờ tôi sẽ nói tới một cách nhìn khác về Kitô giáo vốn che giấu đi sự hiểu biết chân chính về tôn giáo ấy - đó là cách nhìn khoa học.

Những người của giáo hội thay thế Kitô giáo bằng phiên bản mà họ đã định hình cho bản thân họ và họ xem quan điểm ấy của họ về Kitô giáo như một quan điểm đích thực chân chính không thể sai lầm.

Những người thuộc giới khoa học xem Kitô giáo chỉ là những giáo lí được các giáo hội khác nhau duy trì trong quá khứ và hiện tại; rồi thấy rằng các giáo lí ấy đã mất đi mọi tầm quan trọng của Kitô giáo, họ tiếp nhận nó như là một tôn giáo đã lỗi thời.

Để thấy rõ được rằng không thể nào hiểu được lời dạy của Kitô giáo từ một quan điểm như vậy, thì phải thiết lập cho bản thân mình một ý tưởng về vị trí thực sự của các tôn giáo nói chung, và của Kitô giáo nói riêng, ở trong đời sống của nhân loại, cũng như cái ý nghĩa mà khoa học gán cho chúng.

Giống như một con người cá nhân không thể nào sống được mà không có một lí thuyết nào đó về ý nghĩa cuộc sống của mình, và bao giờ cũng định hình hành vi của mình theo ý nghĩa mà anh ta gán cho cuộc sống của mình, dẫu thường là không ý thức rõ ràng điều này; cho nên các tổ chức gắn kết con người với nhau - các quốc gia - sống trong các điều kiện tương tự cũng phải có các lí thuyết về ý nghĩa cuộc sống kết hợp với nhau của họ và có hành vi dẫn xuất ra từ các lí thuyết ấy. Và giống như một con người cá nhân, khi anh ta đạt đến một giai đoạn mới của trưởng thành tất nhiên sẽ thay đổi triết lí của mình về cuộc sống, và con người đã trưởng thành nhìn thấy ở trong đó một ý nghĩa khác biệt với trẻ thơ, cho nên các tổ chức gắn kết con người với nhau - các quốc gia - cũng buộc phải thay đổi triết lí của họ về cuộc sống cũng như hành vi của họ dẫn xuất ra từ lí thuyết ấy, để phù hợp với sự phát triển của họ.

Về phương diện này sự khác biệt giữa con người cá nhân và nhân loại như một toàn thể nằm ở sự kiện: ấy là con người cá nhân trong khi thiết lập quan điểm cuộc sống thích đáng cho giai đoạn mới mà anh ta bước vào cũng như hành vi dẫn xuất ra từ đó, được hưởng lợi ở trải nghiệm của những người đã đi qua rồi cái giai đoạn trưởng thành mà anh ta đang bước vào ấy. Thế nhưng nhân loại không có được sự trợ giúp đó, vì nhân loại luôn chuyển động theo con đường mà từ trước tới nay chưa hề đi qua, và cũng không có ai để hỏi phải hiểu cuộc sống như thế nào, và phải hành động ra sao trong những điều kiện mà nhân loại đang bước vào vốn trước đây chưa có ai đã trải qua bao giờ.

Tuy nhiên, giống như một người có vợ con không thể tiếp tục nhìn cuộc sống như anh ta đã từng nhìn nó lúc còn là trẻ thơ, cũng như vậy, khi đối diện với những biến đổi đa dạng đang xuất hiện, mật độ dân số lớn hơn, thiết lập giao lưu giữa các dân chúng khác biệt nhau, những cải thiện phương pháp đấu tranh với thiên nhiên cũng như việc tích tụ tri thức, nhân loại không thể tiếp tục nhìn cuộc sống như thời xưa và họ phải định hình một lí thuyết mới về cuộc sống để từ đó dẫn xuất ra hành vi phù hợp với các điều kiện mới mà họ đã và đang bước vào.

Nhằm đáp ứng cho nhu cầu ấy, nhân loại có một năng lực đặc biệt sản sinh ra những con người đưa ra được một ý nghĩa mới cho toàn thể cuộc sống nhân bản - một lí thuyết về cuộc sống từ đó suy ra những hình thức mới của hoạt động hoàn toàn khác với tất cả những thứ trước đó. Sự hình thành triết lí ấy về cuộc sống thích đáng cho nhân loại ở trong những điều kiện mới mà họ đang bước vào cũng như sự thực hành dẫn xuất ra từ đó, chính là cái được gọi là tôn giáo.

Cho nên, điều thứ nhất, tôn giáo không phải là biểu thị của một thời phù hợp với sự phát triển của nhân loại, rồi sau đó trở thành lỗi thời, như khoa học hình dung như vậy. Tôn giáo là một biểu thị cố hữu trong cuộc sống của nhân loại, vừa không có gì thay thế được lại vừa là cố hữu ở thời hiện tại cũng như bất cứ thời nào khác. Điều thứ hai, tôn giáo luôn luôn là lí thuyết thực hành của tương lai chứ không phải của quá khứ, cho nên rõ ràng là nghiên cứu các biểu hiện trong quá khứ thì dứt khoát không nắm được bản chất của tôn giáo.

Bản chất của mọi lời dạy bảo tôn giáo không hề nằm ở mong muốn thể hiện sức mạnh của thiên nhiên một cách biểu tượng, cũng không phải nằm trong nỗi sợ hãi các sức mạnh ấy, cũng không hề là tham vọng phép lạ và cũng không nằm ở các hình thức bề ngoài mà nó biểu thị ra, như những người trong giới khoa học vẫn hình dung như thế; bản chất của tôn giáo nằm ở tài năng của những người nhìn thấy trước và chỉ ra con đường của cuộc sống mà nhân loại phải đi theo ở trong việc khám phá ra một lí thuyết mới về cuộc sống, khiến cho toàn bộ hành vi trong tương lai của nhân loại được thay đổi và khác biệt với tất cả những gì đã có trước đây.

Tài năng ấy của việc nhìn thấy trước con đường theo đó nhân loại phải đi, vốn là năng lực chung của tất cả mọi người ở mức độ nhiều hơn hay ít hơn. Nhưng trong mọi thời đại đều đã từng có những con người mà tài năng đó đặc biệt mạnh mẽ, và những người ấy đã thể hiện rõ ràng và xác quyết những gì mà tất cả mọi người khác đã cảm nhận thấy một cách mơ hồ, và họ đã thiết lập một triết lí mới về cuộc sống, từ đó suy ra các đường lối hoạt động cho hàng trăm, hàng ngàn năm sau.

Chúng ta biết được ba triết lí như thế về cuộc sống; hai triết lí đã được nhân loại trải qua và triết lí thứ ba là triết lí mà chúng ta đang trải qua hiện nay ở trong Kitô giáo. Triết lí về cuộc sống có số lượng là ba, và chỉ ba mà thôi, không phải vì chúng ta tùy tiện gom các lí thuyết khác nhau về cuộc sống lại dưới ba đề mục này, mà là vì tất cả mọi hành động của người ta luôn dựa trên một trong ba quan điểm ấy về cuộc sống - vì rằng chúng ta không thể quan niệm cuộc sống một cách nào khác với ba cách thức ấy.

Ba quan điểm ấy về cuộc sống như sau: thứ nhất là bám vào cá nhân hay quan điểm súc vật về cuộc sống; thứ hai là bám vào xã hội hay quan điểm ngoại đạo (pagan view) về cuộc sống; thứ ba là bám vào toàn thể thế giới, hay quan điểm siêu phàm (divine view) về cuộc sống.

Trong lí thuyết thứ nhất về cuộc sống, một đời sống của con người được giới hạn vào riêng một cá nhân anh ta; mục đích cuộc sống là thỏa mãn ý chí của cá nhân ấy. Trong lí thuyết thứ hai về cuộc sống, đời sống của con người được giới hạn không phải vào riêng anh ta mà vào những cộng đồng và giai cấp của các cá nhân: vào bộ lạc, gia đình, thị tộc, quốc gia; mục đích của cuộc sống được giới hạn trong việc thỏa mãn ý chí của các cộng đồng cá nhân ấy. Trong lí thuyết thứ ba về cuộc sống, đời sống của một con người được giới hạn không phải vào cộng đồng và giai cấp của các cá nhân, mà mở rộng tới nguyên lí và cội nguồn của cuộc sống - Thượng Đế.

Ba nhận thức ấy về cuộc sống thiết lập cơ sở của tất cả mọi tôn giáo đang tồn tại hay đã tồn tại.

Người hoang dã thừa nhận cuộc sống chỉ ở trong bản thân mình và trong việc thỏa mãn các ham muốn cá nhân của riêng anh ta. Mối quan tâm của anh ta trong cuộc sống tập trung vào riêng mình anh ta. Hạnh phúc cao nhất đối với anh ta là thỏa mãn đầy đủ nhất các ham muốn của anh ta. Động lực cuộc sống của anh ta là niềm vui cá nhân. Tôn giáo của anh ta bao gồm việc làm vui lòng chúa trời của anh ta và trong việc thờ phụng các thần linh của anh ta, vốn trong tưởng tượng của anh ta giống như những con người sống chỉ vì những mục đích cá nhân của họ.

Người ngoại đạo đã được văn minh hóa, thừa nhận cuộc sống không phải ở riêng bản thân mình, mà còn ở trong các cộng đồng con người - trong bộ lạc, thị tộc, gia đình, vương quốc - và hi sinh lợi ích cá nhân của mình cho những cộng đồng ấy. Động lực cuộc sống của anh ta là vinh quang. Tôn giáo của anh ta bao gồm việc tán dương vinh quang của những người liên hệ với anh ta - những người sáng lập gia đình anh ta, tổ tiên của anh ta, những người cai trị anh ta - cũng như ở trong việc tôn thờ các thần linh là những vị bảo trợ đơn thuần cho thị tộc của anh ta, gia đình của anh ta, quốc gia của anh ta, nhà nước của anh ta.

Chân dung đại văn hào Nga, nhà tư tưởng lớn

[Ghi chú: Sự kiện có nhiều đến thế các hình thức tồn tại của cuộc sống, như cuộc sống của gia đình, của bộ lạc, của thị tộc, của nhà nước, và thậm chí cuộc sống của nhân loại, được những người theo Thực chứng luận diễn đạt về lí thuyết, đặt cơ sở dựa trên lí thuyết xã hội hay ngoại đạo về cuộc sống, [sự kiện này]không làm mất đi sự thống nhất của lí thuyết ấy về cuộc sống. Tất cả những hình thức đa dạng ấy của cuộc sống đều đặt cơ sở trên cùng một quan niệm cho rằng cuộc sống của cá nhân là một mục đích không đầy đủ cho cuộc sống - rằng ý nghĩa của cuộc sống chỉ có thể được tìm thấy ở trong các cộng đồng của các cá nhân.]

Con người theo lí thuyết siêu phàm về cuộc sống thừa nhận cuộc sống không phải ở trong riêng cá nhân anh ta, và cũng không phải ở trong các cộng đồng của các cá nhân (ở trong gia đình, thị tộc, quốc gia, bộ lạc hay nhà nước), mà ở trong cội nguồn vĩnh hằng bất tử của cuộc sống - ở trong Thượng Đế; và để hoàn tất ý chí của Thượng Đế anh ta sẵn sàng hi sinh phúc lợi của cá nhân anh ta cũng như của cả gia đình và xã hội. Động lực cuộc sống của anh ta là lòng thương yêu. Và tôn giáo của anh ta là tôn thờ trong hành động và trong chân lí của nguyên lí về toàn thể - Thượng Đế.

Toàn thể tồn tại lịch sử của nhân loại chẳng phải gì khác ngoài sự chuyển biến dần dần từ quan niệm cá nhân, súc vật về cuộc sống, và từ quan niệm xã hội về cuộc sống đi đến quan niệm siêu phàm về cuộc sống. Toàn thể lịch sử của các dân chúng cổ đại trải qua hàng ngàn năm và kết thúc ở lịch sử của La Mã chính là lịch sử của cuộc chuyển biến từ quan điểm súc vật, cá nhân về cuộc sống đi đến quan điểm xã hội về cuộc sống. Toàn thể lịch sử từ thời đại đế chế La Mã và sự xuất hiện Kitô giáo là lịch sử của cuộc chuyển biến mà chúng ta vẫn còn đang đi qua nó, từ quan điểm xã hội về cuộc sống đi đến quan điểm siêu phàm về cuộc sống.

Quan điểm đó về cuộc sống là quan điểm cuối cùng và đặt cơ sở cho nó là lời dạy Kitô giáo vốn là chỉ dẫn cho toàn thể cuộc sống của chúng ta và nằm ở cội nguồn cho mọi hoạt động của chúng ta, hoạt động thực tiễn cũng như lí thuyết. Thế nhưng những người thuộc giới được gọi sai lầm là khoa học, những người khoa học giả hiệu, lại đang nhìn nó đơn thuần ở những vẻ bề ngoài, xem nó như một thứ gì đó lỗi thời và chẳng có giá trị gì cho chúng ta.

Quy giản nó về khía cạnh giáo điều đơn thuần - về thuyết Ba-ngôi (Trinity), về lễ chuộc tội, về những phép lạ, về Giáo hội, về những lễ ban phước v..v... - những người thuộc giới khoa học xem nó chỉ như là một trong vô số các tôn giáo đã từng xuất hiện ở trong nhân loại, và bảo rằng giờ đây nó đã hết tác dụng lịch sử, đang sống những ngày tàn của mình, đang héo lụi đi trước ánh sáng của khoa học và sự khai sáng chân chính.

Chúng ta ở đây chạm đến vấn đề trong đa số các trường hợp tạo nên cội nguồn của những lầm lẫn lớn nhất nơi nhân loại. Những người thuộc trình độ thấp của hiểu biết khi tiếp xúc với các hiện tượng thuộc một trật tự cao hơn, thay vì nỗ lực để hiểu được các hiện tượng ấy, nâng bản thân mình lên tới quan điểm mà họ cần phải nhìn vào đối tượng, thì lại phán xét chuyện này từ tầm nhìn thấp hơn của họ, và khi họ càng không hiểu họ đang nói về chuyện gì, thì họ lại càng đưa ra phán xét về chuyện đó một cách tự tin và không hề do dự nhiều hơn nữa.

Cho nên đối với đa số những người có học vấn nhìn vào đời sống và lời dạy bảo của Đức Kitô từ tầm nhìn thấp hơn của nhận thức về cuộc sống, học thuyết đó có vẻ như chẳng phải gì khác mà chỉ là tổ hợp bất xác định và đầy phi lí của thuyết khổ hạnh Ấn Độ, triết học khắc kỉ Stoic và Tân Plato, cũng như của những cách nhìn phản xã hội, phi thực tế, vốn không còn có ý nghĩa quan trọng nào cho thời đại hiện nay. Toàn bộ ý nghĩa của học thuyết ấy đối với họ tập trung ở các biểu hiện bề ngoài của nó - ở [các giáo hội] Thiên chúa, Tin lành, ở trong một số giáo điều nhất định, hay ở trong mâu thuẫn với các sức mạnh đương thời. Đánh giá giá trị của Kitô giáo bằng các hiện tượng này thì cũng giống như người điếc phán xét đặc tính và chất lượng của âm nhạc bằng cách nhìn vào cử động của các nhạc công.

Kết quả của tình trạng này là tất cả những người thuộc giới khoa học ấy, từ Kant, Strauss, Spencer rồi cho tới Renan, đều không hiểu được ý nghĩa những lời nói của Đức Kitô, không hiểu được tầm quan trọng, đối tượng hay lí lẽ của cách nói ấy, không hiểu được ngay cả vấn đề mà những lời nói đó tạo ra lời giải đáp. Thế nhưng họ vẫn không chịu khó thâm nhập vào ý nghĩa của chúng, nếu thấy không thuận tai, họ từ chối thừa nhận bất cứ tính hợp lí nào trong học thuyết của Người; hoặc giả nếu họ muốn đối xử với chúng một cách khoan dung, họ hạ mình xuống từ chiều cao ưu việt của họ để hiệu chỉnh chúng, dựa trên giả định rằng Đức Kitô vốn định nói chính xác những ý tưởng của bản thân họ, nhưng lại không thành công trong việc này. Họ ứng xử đối với lời dạy bảo của Người phần nhiều giống như những người tự phụ nói với những kẻ mà họ cho là thấp kém hơn, thường nói thêm vào những lời lẽ:" Phải rồi, chắc anh định nói thế này thế kia." Sự hiệu chỉnh ấy luôn nhằm mục đích quy giảm lời dạy bảo của nhận thức cao hơn, siêu phàm về cuộc sống, xuống dưới trình độ nhận thức thấp kém hơn của nhà nước về cuộc sống.

Họ thường bảo rằng lời dạy đạo đức của Kitô giáo rất cao quý, nhưng cường điệu quá mức; cho nên để cho nó được thật đúng đắn thì chúng ta phải bỏ đi tất cả những gì là thừa và không cần thiết cho lối sống của chúng ta. "Và cái học thuyết đòi hỏi quá nhiều, bắt làm những thứ không thể thực hiện được, [học thuyết ấy] là tệ hại hơn học thuyết đòi hỏi ở người ta những gì khả dĩ và phù hợp với năng lực của họ," những vị có học vấn diễn giải Kitô giáo [những vị ấy] bảo lưu và lặp lại những gì đã được khẳng định từ thời xa xưa, và không thể không khẳng định như thế, bởi những kẻ đã đóng đinh Người Thầy bởi vì chúng không hiểu được Người - đám người Do thái.

.........

Sau mười tám thế kỉ giáo dục Kitô giáo, cái thế giới văn minh vốn được đại diện bởi những nhà tư tưởng tiên tiến nhất vẫn duy trì niềm tin rằng Kitô giáo là tôn giáo của các giáo điều, rằng lời dạy của nó liên quan đến cuộc sống là bất hợp lí, và có tính chất phá hoại đối với các nghĩa vụ đạo đức hiện thực đã được luật hóa phù hợp với bản chất con người; rồi chính cái học thuyết báo thù mà Đức Kitô đã bác bỏ và thay thế nó bằng lời dạy của mình, thì họ lại cho rằng nó có ích lợi thực tiễn hơn đối với chúng ta.

............

Người ta có thể không chia sẻ quan điểm ấy [Kitô giáo] về cuộc sống, người ta có thể bác bỏ nó, người ta có thể chứng tỏ nó sai lầm, nhưng người ta không thể phán xét lời dạy bảo Kitô giáo mà không lĩnh hội quan điểm ấy về cuộc sống. Lại càng không thể nào phê phán một đối tượng thuộc tầng cao hơn từ một quan điểm ở dưới thấp hơn. Ở dưới đáy của hình chóp thì không thể phán xét về những tác động của đỉnh chóp. Thế nhưng đó lại chính là những gì giới phê bình có học vấn thời nay đang cố làm. Ấy là vì họ chia sẻ ý tưởng sai lầm của những tín đồ chính thống giáo cho rằng họ nắm được những phương tiện bất khả sai lầm để nghiên cứu đối tượng. Họ tưởng rằng nếu họ áp dụng cái được gọi là các phương pháp khoa học phê phán, thì không thể có nghi ngờ nào về chuyện kết luận của họ là đúng đắn.

Khảo sát đối tượng bằng phương pháp khoa học, được tưởng tượng là bất khả sai lầm, đó chính là trở ngại chủ yếu cho việc thấu hiểu Kitô giáo đối với những người vô tín ngưỡng, đối với những người được gọi là có học vấn. Từ chuyện này dẫn đến tất cả những sai lầm tạo ra bởi những người thuộc giới khoa học bàn về Kitô giáo, đặc biệt là hai nhận thức sai lầm thật kì quặc vốn cản trở họ nhiều hơn mọi thứ khác trong việc hiểu đúng đắn tôn giáo ấy. Một trong những nhận thức sai lầm ấy, đó là cho rằng lời dạy đạo đức Kitô giáo không thể thực thi, cho nên hoặc là nó không có tác dụng - tức là nó không thể được chấp nhận như lề luật ứng xử - hoặc là nó phải đư

Đôi nét về tác giả

Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kiev năm 1965 với chuyên ngành vật lý lý thuyết, ông bảo vệ luận án phó tiến sĩ khoa học tại Kiev sau đó về Việt Nam làm việc tại Viện Vật lý. Giáo sư có hơn 30 công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học nước ngoài. Bên cạnh đó, ông GS còn gắn với những tác phẩm dịch thuật như J.S. Mill, Bàn về tự do; J.S. Mill, Chính thể đại diện; R. P. Feynman, Ý nghĩa mọi thứ trên đời; A.I. Herzen, Từ bờ bên kia ; I. Berlin, Bốn tiểu luận về tự do…