Minh triết phương Đông Và Triết học phương Tây-Đâu mới đích thực là con đường? - Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy
Salon Văn hóa Cà phê thứ Bảy

Minh triết phương Đông Và Triết học phương Tây-Đâu mới đích thực là con đường?

10:05:04 04-09-2017

(Caphethubay.net) - Bấy lâu trong giới học giả triết học vẫn còn đang bàn luận rằng chỉ có phương Tây mới có triết học còn phương Đông thì không có triết học mà chỉ có minh triết thôi. Nhiều học giả phân định hai phương trời tư tưởng thành: Minh triết phương Đông và triết học phương Tây.

 

Liệu sự phân định  này có chính xác hay không hay ít nhiều khiên cưỡng. Để biết được điều đó đòi hỏi chúng ta phải truy tầm cho rõ hai khái niệm cơ bản: Minh triết và triết học, và đồng thời phải thấy được sự biểu hiện của cả hai trong cuộc sống thực tiễn.

Trước hết, về mặt khái niệm, ta có chữ “Minh triết” (Sagesse) 明哲nghĩa là chỉ sự khôn sáng, thông tuệ của các bậc hiền nhân xưa đã được kết tinh vào những câu nói triết ngôn và từ đó trở thành phương châm giáo huấn cho hậu thế muôn đời sau. Chẳng hạn  như câu  “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân – Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác” (Luận Ngữ) là một câu nói minh triết nổi tiếng của Nho Giáo. 

Khái niệm triết học (Philosophy) xuất phát từ trời Tây, nguyên nghĩa của nó là một từ ghép của hai chữ Hy Lạp: Philo  (φιλο): yêu mến; Sophia (σοφία): sự thông thái. Như vậy, triết học theo nghĩa ban đầu là yêu mến sự thông thái (love of wisdom). Cái nghĩa ban đầu ấy hàm một ý rất khiêm tốn rằng các nhà tư tưởng không dám xưng mình là nhà hiền triết, là người minh triết thấu suốt vạn vật mà chỉ là người yêu mến minh triết và chỉ dám đứng xa xa mà nhìn mà mong muốn cái sự minh triết như một điều cần đạt tới (đạt tới sự hiền minh của thần linh, Thượng Đế) nhưng không bao giờ có thể đạt được. Căn cứ vào đó ta thấy rằng cái nghĩa ban đầu của từ “triết học” chỉ là yêu mến sự minh triết. Từ sau Socrates, hai môn đệ của ông là Plato và Aristotle đã đưa triết học tiến lên một nghĩa lý mới, làm mất đi ý nghĩa nguyên thủy của nó là yêu mến minh triết. Triết học lúc này không còn là yêu mến sự thông thái nữa mà đó là một hệ thống tri thức bao gồm: vũ trụ luận (cosmology), tri thức luận (epistemology), siêu hình học (metaphysics), luận lý học (logic).

Theo Phùng Hữu Lan (triết sử gia Trung Quốc), phương Đông không cho tự thân tri thức là tốt nên không vì tri thức mà cầu tri thức. Chẳng những không vì tri thức mà cầu tri thức, mà những tri thức có thể làm con người thêm hạnh phúc thì họ cũng muốn đem ra thực hành  để con người tăng thêm hạnh phúc chứ  không muốn thảo luận suông. Vì thế xưa nay người phương Đông  không xem trọng việc viết sách, lập thuyết. “Trên hết là lập đức, kế đến là lập công, chót hết là lập ngôn”. Cho nên việc viết sách, lập thuyết đối với các tư tưởng gia phương Đông là chuyện bất đắc dĩ. Các triết gia phương Tây hễ không biện luận thì thôi, mà đã biện luận thì phải nhất quán đuôi đầu, logic chặt chẽ từ đó hình thành nên một hệ thống tri thức lý luận rất chắc chắn; còn các tư tưởng gia phương Đông thường ít ai gắng sức về lập ngôn lập thuyết mà đề cao “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”.

Về mặt biểu hiện, theo học giả Kim Định, phương Tây bàn luận về “sống là gì, sống như thế nào” trước đã rồi sau đó mới thực hành lối sống ấy, còn phương Đông thì “sống” (tức thực hành) chính là đã triết lý; phương Tây ăn uống đâu vào đấy cả rồi mới ngồi ra mà triết lý, còn phương Đông trái lại thì ăn uống cũng chính là triết lý. Triết lý phương Đông phải được giấu vào trong cử chỉ, thể hiện vào trong đời sống và trong cả sự im lặng...đồng nhất triết lý với đời sống, mình với triết lý là hai nhưng chẳng phải hai, không phân biệt chủ thể với khách thể, Atman là sự hóa thân của Brahman, tâm và vật là một. Tư tưởng phương Tây biện biệt ta-người, khách thể – chủ thể rõ ràng nên mới biện rõ đâu là duy vật, đâu là duy tâm...

Theo nghĩa lý đó, các học giả cho rằng phương Đông không có triết học, chỉ có phương Tây mới có triết học (theo nghĩa hệ thống tri thức) không phải là không có lý. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chưa xét đến đối tượng, phương pháp và nội dung của hai hệ thống tư tưởng Đông - Tây. Nếu bàn luận đến vấn đề này của cả hai hệ thống tư tưởng phương Đông và phương Tây thì luận điểm “phương Đông chỉ có minh triết, phương Tây mới có triết học” chưa chắc đã đứng vững được. Nhưng việc phương Đông có hay không có triết học, phương Tây có hay không có minh triết không còn là vấn đề quan trọng, mà quan trọng, ta phải đặt vấn đề: Đâu mới là bậc đạo sư (một bậc thầy, một triết thuyết, một con đường) mà ta và cả nhân loại sẽ đi theo: phương Đông hay phương Tây? Liệu trong tương lai, hai nền triết lý Đông - Tây có chung đường? Và hiện nay, triết học đang bàn luận về những vấn đề gì? Triết lý/triết học có thực sự giải quyết được các vấn đề toàn cầu như nghèo đói, dịch bệnh, chiến tranh, biến đổi khí hậu, tăng dân số...hay không?

Đây là chủ đề chúng ta sẽ bàn luận trong buổi cà phê sắp tới cùng với Tiến sĩ Dương Ngọc Dũng (chủ trì : Dương Thụ).

Vài nét về diễn giả : Tiến sĩ Dương Ngọc Dũng tốt nghiệp Thạc sĩ khoa Đông Á học tại Đại học Harvard (Mỹ) năm 1995, tốt nghiệp Tiến sĩ khoa Tôn giáo học tại Đại học Boston (Mỹ) năm 2001, tốt nghiệp MBA của United Business Institute (Bỉ) năm 2007.
Ngoài ra, ông từng giữ những vị trí quản lý cao cấp, đào tạo và tư vấn cho những tổ chức lớn như Samsung, LG Vina, Tổng lãnh sự Mỹ, Úc, New Zealand, Bộ Kế hoạch & Đầu Tư, Bộ Tài chánh, Đài truyền hình Việt Nam, Tổng lãnh sự Singapore… Hiện nay, ông đang giảng dạy tại Khoa Triết học thuộc Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn và giảng dạy các môn Quản trị Marketing, Quản trị Nhân sự, Quản trị xuyên văn hóa của Đại học Quản trị Paris (Paris Graduate School of Management). Ông còn giảng dạy tại các chương trình MBA của Đại học Bolton (Anh) và Đại học Northwestern (Thụy Sĩ) ở Việt Nam.

Thời gian : 9:00-11:30 thứ Bảy, ngày 9/9/2017

Địa điểm : Cà phê thứ Bảy TP.HCM, 19B Phạm Ngọc Thạch, Q3

CPTB